Đạp Xe Kể Chuyện · Tập 40
Ngó Xuống Qua Ô Cửa Sổ, Ba Ngàn Hai Trăm Sáu Mươi Cây Số Bờ Biển Và Những Ngọn Đèn Thanh Long Sáng Như Dải Ngân Hà – Cúi Xuống Bầu Trời
Trên bầu trời miền Trung, đường bay Sài Gòn – Hà Nội
Chào bạn. Tập trước Vương kể chuyện con đường trên trời giữa Sài Gòn với Hà Nội đông người cỡ nào. Tập này Vương xin làm một việc đơn giản hơn: ngồi yên bên ô cửa sổ, không đọc báo, không ngủ, chỉ ngó xuống. Bao nhiêu tập Vương đạp xe đi coi từng góc phố, giờ thử một lần coi cả dải đất từ trên cao.
Mà Vương phải nói thật trước. Trời không hứa với ai hết. Có bữa mây dày, ngó ra chỉ thấy một màu trắng. Có bữa nắng chói, kính cửa sổ lóa không coi được gì. Ngồi bên trái hay bên phải máy bay cũng thấy khác nhau. Nên những gì Vương kể sau đây, có phần là Vương mong được thấy, có phần là Vương đọc trên báo, coi trong ảnh của những người đã chụp đất nước mình từ trên cao. Bạn cứ nghe như vầy: nếu trời quang, có khi mình thấy như vầy.
Trước khi cất cánh, Vương mở mấy con số ra coi lại. Theo trang của Tổng cục Du lịch Việt Nam, đất nước mình trải dài khoảng một ngàn sáu trăm năm mươi cây số từ bắc xuống nam, có khoảng ba ngàn hai trăm sáu mươi cây số bờ biển đất liền, còn chỗ hẹp nhất, quanh vùng Quảng Bình, bề ngang chỉ còn chừng năm mươi cây số. Dài một ngàn sáu trăm mấy chục cây số mà có khúc ngang chỉ năm mươi. Mảnh mai vậy đó, nên người ta mới gọi là dải đất.
Máy bay rời đường băng Tân Sơn Nhất, nghiêng cánh một cái. Nếu ngó xuống lúc này, Sài Gòn trải ra như một tấm thảm mái tôn, mái ngói, xen mấy vệt cây xanh. Con sông Sài Gòn uốn qua uốn lại như sợi dây ai thả lơi. Mấy con đường Vương từng đạp xe, giờ nhỏ như đường chỉ may. Vương ngó hoài mà không biết cái nhà mình nằm chỗ nào trong đó. Lên cao một chút là mình đã thành người lạ với chính con hẻm của mình.
Bay ra Bắc là quay lưng lại với miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long nằm phía sau, ô cửa sổ không ngó tới được, nên Vương chỉ nhờ mấy bức ảnh chụp từ trên cao mà hình dung: kênh rạch chằng chịt như gân trên chiếc lá, ruộng lúa chia ô, vườn cây xanh mướt chạy dọc bờ sông. Theo báo VTC News, sông Mê Kông dài khoảng bốn ngàn ba trăm năm mươi cây số. Nhà nghiên cứu Võ Hương An cho rằng cái tên Cửu Long có lẽ đến từ hình ảnh chín cửa sông đổ ra biển, như chín cái đầu rồng. Bây giờ chỉ còn bảy cửa, vì cửa Ba Lai đã được chặn bằng hệ thống đập cống, còn cửa Ba Thắc bị bồi lấp từ mấy chục năm trước.
Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng đẹp như tranh. Mà tranh đó có người vẽ. Báo Vietnam+ hồi tháng tám năm nay kể chuyện chị Huỳnh Thị Thắm ở phường Thường Lạc, tỉnh Đồng Tháp. Chị làm gần năm công ruộng, bán lúa được bảy ngàn đồng một ký. Cắt lúa xong, chị ngồi đợi mùa nước nổi về để mang phù sa vô đồng. Người ở trên trời ngó xuống thấy màu xanh, màu vàng. Người ở dưới đất thì ngó lên trời, đợi nước.
Ca dao mình có câu: "Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần." Ngồi trên mây mà ngó về phía cánh đồng mình vừa bỏ lại sau lưng, Vương nhớ câu đó.
Máy bay lên tới độ cao bay bằng, hướng ra phía biển. Nếu trời trong, đường bờ biển hiện ra như một nét bút cong, một bên là đất vàng nâu, một bên là nước xanh, giữa là viền sóng trắng mỏng như ren. Gần bờ nước màu ngọc, ra xa thì xanh thẫm lại. Mấy chấm nhỏ xíu trên mặt biển là ghe thuyền, kéo sau lưng một vệt trắng như đuôi sao chổi.
Đoạn này đường bay đi ngang vùng Bình Thuận cũ. Ban ngày, có khi thấy những đồi cát nằm sát biển. Còn ban đêm thì có một cảnh mà Vương đọc xong cứ nhớ hoài. Báo Tri Thức, Znews, hồi tháng hai năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu, kể chuyện chị Văn Thảo, hai mươi chín tuổi, nhân viên văn phòng. Chị đi một chuyến bay đêm sau Tết từ Hà Nội vô Thành phố Hồ Chí Minh, ngồi ghế A cạnh cửa sổ. Khi bay qua Bình Thuận, bên dưới hiện ra những mảng sáng vàng và đỏ đan xen trong bóng tối, chị thấy giống như dải Ngân Hà. Chị kể đã từng thấy cảnh này dịp Tết năm trước, vậy mà lần nào nhìn cũng thấy mới mẻ, choáng ngợp.
Dải Ngân Hà đó là đèn của những vườn thanh long. Cũng theo bài báo, nông dân thắp bóng đèn nhỏ, chừng bốn tới chín oát, từ tám giờ tối tới sáng hôm sau, trong vụ nghịch từ tháng chín tới tháng năm năm sau, để cây ra trái. Cách làm này có từ những năm chín mươi. Vương nghĩ hoài cái chỗ này. Người ta thắp đèn cho cây, cho vụ mùa, cho cái ăn cái mặc. Vậy mà vô tình thắp luôn một bầu trời sao dưới đất cho người đi trên mây ngó xuống.
Ngồi bên trái máy bay thì ngó về phía tây. Nếu mây thưa, có khi thấy núi nối núi xanh thẫm, mây trắng đậu trên đỉnh như khói bếp chiều. Đó là về phía dãy Trường Sơn. Theo Wikipedia, dãy núi này dài khoảng một ngàn một trăm cây số, chạy qua Lào, Việt Nam và một phần nhỏ đông bắc Campuchia. Đỉnh Ngọc Linh, ngọn cao nhất phía bên mình, cao hai ngàn năm trăm chín mươi tám mét. Xa hơn nữa là cao nguyên đất đỏ, mà từ độ cao này Vương chỉ dám nói là mường tượng.
Vậy đó, bạn ngó thử. Núi một bên, biển một bên, dải đất nằm ở giữa, cong cong như cái lưng người mẹ cúi xuống ruộng. Từ trên này, mình hiểu vì sao người ta nói đất nước hình chữ S. Không phải chỉ là hình trên bản đồ. Nó là một nét cong có thật, mà mình đang bay dọc theo.
Gần tới Đà Nẵng, nếu đi chuyến sáng sớm, có khi thấy dưới bãi biển những đường cong nhỏ màu đen nối vô bờ. Đó có thể là lưới rùng. Báo VnExpress năm hai ngàn không trăm hai mươi có loạt ảnh kéo lưới rùng ở Mân Thái, bán đảo Sơn Trà. Mỗi tốp chừng mười lăm người, kéo gần hai tiếng mỗi sáng, lưới lên có cá cơm, cá nục, cá trích. Mười lăm người kéo một tấm lưới, ngó từ trên cao chắc chỉ như một hàng kiến nhỏ bên mép nước. Mà cả cái làng sống nhờ hàng kiến đó.
Nhà thơ Tế Hanh viết về làng chài quê ông: "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng." Vương ngó xuống mấy chiếc ghe, nghĩ mỗi chiếc là một mảnh hồn làng đang trôi trên biển.
Rồi tới đèo Hải Vân. Theo báo VOV, chữ Hải là biển, chữ Vân là mây. Đèo là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra sát biển, hơi nước từ biển bốc lên gặp vách núi tạo thành mây mù quanh năm trên đỉnh. Dãy Bạch Mã chắn bớt gió mùa đông bắc, nên phía Huế hay có sương mù, mưa phùn, còn phía Đà Nẵng nhiều bữa trời quang, nắng ấm. Theo Tạp chí Công Thương, con đèo dài hai mươi mốt cây số, đỉnh cao gần năm trăm mét, đường đèo uốn lượn "như dải lụa vắt ngang giữa trời mây." Từ máy bay, có khi mình không thấy con đường, chỉ thấy một đám mây nằm vắt qua núi. Mà vậy cũng đúng tên của nó rồi.
Qua khỏi Hải Vân, bờ biển lại kéo dài, và nếu may thì thấy một vệt nước bạc chạy song song với biển, ngăn cách bằng một dải cát mỏng. Đó là hệ đầm phá Tam Giang, Cầu Hai. Theo Wikipedia, hệ đầm phá này dài gần bảy mươi cây số, rộng hai mươi hai ngàn héc ta mặt nước, là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á, nối ra biển qua cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Năm hai ngàn không trăm hai mươi mốt, theo báo Tuổi Trẻ, một bức ảnh chụp từ trên cao của anh Phạm Huy Trung, chụp một người đánh cá trong rừng ngập mặn ở phá Tam Giang, đoạt giải ở hạng mục con người của cuộc thi ảnh chụp từ trên không Drone Photo Awards bên Ý. Người ta đi nửa vòng trái đất để coi một người đánh cá quê mình.
Bay tiếp ra phía bắc là tới cái eo nhỏ nhất của dải đất, quanh vùng Quảng Bình. Năm mươi cây số từ biên giới phía tây ra tới biển. Vương nghĩ thầm, nếu ngồi đúng ghế, trời đúng trong, có khi chỉ một lần ngó mà thấy cả núi lẫn biển. Những cồn cát trắng nằm dọc bờ, mấy cái làng nhỏ nép sau hàng phi lao. Cái eo đất mỏng manh mà người ta vẫn sống, vẫn trồng, vẫn đánh cá, vẫn nuôi con lớn lên.
Ca dao có câu: "Non xanh nước biếc như tranh họa đồ." Người xưa chưa ai được ngồi máy bay, vậy mà tả trúng y như mình đang ngó xuống.
Ngồi trên đó lâu, Vương bắt đầu ngó lên trời nữa, chớ không chỉ ngó xuống. Ở trên mây, trời xanh một màu trong vắt, nắng không bị cái gì cản. Biển mây bên dưới trắng như bông gòn phơi, có chỗ dày như núi tuyết, có chỗ thưa như khói. Đôi khi một khoảng mây hở ra như cánh cửa, để lộ một mảnh ruộng, một khúc sông, rồi khép lại. Cứ vậy, đất nước hiện ra từng mảnh, như ai đang lật từng trang album cho mình coi.
Ngồi giữa biển mây như vầy, Vương nhớ tới một bài thơ của chú Nguyễn Quyết Thắng, chú của Vương. Chú viết bài này năm hai ngàn không trăm lẻ ba, cũng trên một chuyến bay. Chuyến ra Hà Nội lần này, Vương có ghé thăm chú, và chú cho phép Tình Ca đọc, phổ nhạc bài thơ. Bài tên là "Cúi xuống bầu trời". Vương đọc nguyên văn bạn nghe.
Cúi xuống bầu trời.
Giữa không trung biển hóa thành trời
Ly rượu thoảng hương nụ cười sóng sánh
Mắt biếc trong veo, sen vàng lấp lánh
Thu đã đi qua xanh thẳm vĩnh hằng
Chẳng có chim trời, chẳng có gió trăng
Chỉ có lang thang bạt ngàn mây trắng
Chỉ có mặt trời vội vàng gieo tia nắng
Và một mình tôi cúi xuống bầu trời...
Thường thì mình ngước lên mới thấy trời. Vậy mà ngồi trên máy bay, biển mây trắng trải ra dưới chân, mình phải cúi xuống mới thấy. Vương đọc tới câu cuối, "một mình tôi cúi xuống bầu trời", mà thấy thương cái cảm giác đó: giữa mênh mông như vậy, người ta nhỏ lại, mà lòng lại rộng ra.
Trên mấy chuyến bay như vầy, có bao nhiêu người cũng đang ngó xuống. Báo Pháp luật Việt Nam hồi Tết năm hai ngàn không trăm mười sáu kể chuyện anh Trương Văn Công, công nhân ở Biên Hòa, nhờ mua được vé rẻ mà vợ chồng anh lần đầu trong đời đi máy bay về Bắc ăn Tết. Cũng bài báo đó kể chuyện em gái chị Nguyễn Thị Yến ở Hải Dương, đi làm công nhân ở Đồng Nai, lấy chồng Bình Định. Chị Yến nói hồi ở Đồng Nai, em mình không khi nào được về quê, vì vài tháng lương chưa mua được tấm vé máy bay. Năm đó cô em bế đứa con chừng tám tháng, cùng chồng bay ra Hà Nội ăn Tết, cho chồng ra mắt họ hàng.
Vương không biết anh Công, cô em của chị Yến, lần đầu ngồi máy bay đó có được ngồi cạnh cửa sổ không. Mà Vương đoán, nếu được, chắc họ cũng ngó xuống như Vương bây giờ. Ngó xuống cái dải đất mình đã đi vô, giờ đi ra. Ngó cái đoạn đường mà bao nhiêu năm mình chưa đủ tiền về.
Gần hai tiếng, máy bay bắt đầu hạ độ cao. Đây là lúc mà Vương thấy cửa sổ đáng ngồi nhất. Có khi thấy phía dưới những núi đá vôi nhô lên giữa đồng, rồi đồng bằng Bắc Bộ trải ra, ruộng chia ô vuông vức như bàn cờ, mấy cái làng nằm giữa đồng, quanh làng là lũy tre, là ao nước sáng lên như mảnh gương vỡ khi nắng chiếu. Rồi con sông Hồng hiện ra, nước đỏ nâu, uốn khúc mềm mại.
Theo báo VietNamNet, mỗi năm sông Hồng chở khoảng một trăm hai mươi triệu tấn phù sa, chừng sáu mươi phần trăm lượng phù sa của sông ngòi cả nước. Đoạn chảy qua Hà Nội dài một trăm sáu mươi ba cây số. Cái màu đỏ nâu đó, ngó từ trên cao thấy đục, mà chính nó bồi nên cả cái đồng bằng xanh mướt hai bên bờ.
Vương ngồi nghĩ. Đầu nam có đồng bằng sông Cửu Long, đầu bắc có đồng bằng sông Hồng. Ở giữa là một dải đất dài, hẹp, một bên núi, một bên biển. Giống y một chiếc đòn gánh, gánh hai thúng lúa. Mà người gánh là ai? Là chị Thắm đợi nước nổi, là mười lăm người kéo lưới mỗi sáng, là mấy vườn thanh long thắp đèn suốt đêm, là anh công nhân lần đầu đi máy bay về quê.
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết: "Đất Nước là nơi ta hò hẹn." Nhà thơ Chế Lan Viên thì viết: "Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn." Hồi đi học Vương đọc mấy câu đó, thấy hay mà chưa thấm. Bữa nay ngồi trên máy bay ngó xuống, Vương mới thấy nó gần. Đất nước không còn là chữ trong sách. Đất nước là cái dải xanh, nâu, trắng, vàng đang trôi chậm chậm dưới cánh máy bay, có người đang cấy, có người đang kéo lưới, có người đang đợi mình về.
Bánh xe chạm đường băng Nội Bài, một cái rung nhẹ. Mấy người xung quanh đứng dậy lấy hành lý. Vương ngồi thêm một chút, ngó ra cửa sổ lần cuối. Hai tiếng thôi. Một nét cong thôi. Mà chứa cả quê nhà.
Bạn đã bao giờ ngồi cạnh ô cửa sổ máy bay, ngó xuống quê mình chưa? Bạn thấy gì, một khúc sông, một bãi biển, một cánh đồng, hay chỉ là mây? Kể cho Vương nghe với nghen.
Những điều Vương kể hôm nay, mình lấy từ trang của Tổng cục Du lịch Việt Nam, báo Tri Thức Znews, VTC News, Vietnam+ của Thông tấn xã Việt Nam, VnExpress, VOV, Tạp chí Công Thương, báo Tuổi Trẻ, báo Pháp luật Việt Nam, VietNamNet và Wikipedia; thơ của Tế Hanh, Nguyễn Khoa Điềm, Chế Lan Viên và ca dao; bài thơ "Cúi xuống bầu trời" của nhà thơ Nguyễn Quyết Thắng, viết năm hai ngàn không trăm lẻ ba, đọc và phổ nhạc với sự đồng ý của tác giả; còn những cảnh ngó qua cửa sổ là Vương tả theo tư liệu và theo điều Vương mong được thấy, tùy trời tùy mây.