Sài Gòn ngồi nghe mình kể

Sài Gòn xưa và nay

Một trăm địa danh và một trăm câu chuyện đời thường: thương xá, rạp hát, quán cà phê cũ, tiếng rao đêm. Sài Gòn của những người từng sống, từng hẹn hò, từng lớn lên ở đó.

Xem bản đồ Sài Gòn xưa →

Đạp Xe Kể Sài Gòn · Tập 34

Ngôi Chùa Dời Khỏi Bờ Sông, Con Đê Năm Nào Cũng Phải Đắp Lại Và Cái Tên Cố Ngự Nghĩa Là Giữ Cho Vững – Giữ Cho Vững

Chùa Trấn Quốc, đường Thanh Niên, Ba Đình, Hà Nội

Chào bạn. Từ cầu Long Biên xuống, Vương đạp theo đường Yên Phụ chạy dọc con đê sông Hồng, rồi rẽ vô một con đường thẳng tắp. Hai bên đường đều là nước. Một bên là hồ Trúc Bạch, một bên là Hồ Tây rộng mênh mông. Đây là đường Thanh Niên. Ở cuối một nhánh đường nhỏ, trên một hòn đảo, có ngọn tháp màu đỏ nhiều tầng nổi lên trên mặt hồ. Đó là chùa Trấn Quốc.

Mà sáng nay Vương không bắt đầu từ ngôi chùa. Vương bắt đầu từ con đường mình đang đạp xe trên đó. Vì không có con đường này, hồi xưa muốn tới chùa phải đi thuyền.

Trước hết là chuyện ngôi chùa. Theo báo Pháp Luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chùa có từ thời Lý Nam Đế, tức khoảng năm năm trăm bốn mươi tư tới năm trăm bốn mươi tám. Hồi đó chùa tên Khai Quốc. Wikipedia cũng ghi như vậy. Tính ra, ngôi chùa đã có hơn một nghìn bốn trăm năm.

Mà hồi đó chùa không nằm ở đây. Theo báo Pháp Luật Việt Nam, chùa ban đầu ở thôn An Hoa, sát bờ sông Hồng. Theo Wikipedia, vì sông lấn vô bờ, năm một nghìn sáu trăm mười lăm chùa được dời ra bãi Kim Ngư, nghĩa là bãi cá vàng, trên Hồ Tây. Báo Pháp Luật Việt Nam thì ghi chùa được dời vô phía trong đê, thuộc làng Yên Phụ, trên nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý.

Một ngôi chùa bị sông đuổi, phải dời đi. Vậy mà dời ra một hòn đảo, thì lại thành ra cách bờ một khoảng nước.

Rồi tới con đê. Theo báo Pháp Luật Việt Nam, năm một nghìn sáu trăm hai mươi bốn, các làng quanh Hồ Tây cùng nhau đắp một con đê tên Cố Ngự. Từ đó, bà con đi lễ chùa khỏi phải dùng thuyền nữa.

Báo Hà Nội Mới thì kể theo một cách khác, mà Vương thấy cảm động hơn. Theo bài báo, từ thế kỷ mười bảy, dân đánh cá quanh vùng đắp một con bờ nhỏ từ làng Yên Hoa xuống làng Yên Ninh, cho khỏi phải đi vòng. Mà sóng hồ vỗ hoài, đất cứ lở, nên năm nào cũng phải đắp lại cho vững.

Hai nguồn, một bên ghi năm một nghìn sáu trăm hai mươi bốn, một bên chỉ ghi thế kỷ mười bảy. Vương để cả hai cho bạn.

Còn cái tên thì Vương thích lắm. Theo báo Hà Nội Mới, tên gốc của con đê là Cố Ngự. Nghĩa là giữ cho vững. Người Pháp đọc không có dấu, lâu dần thành Cổ Ngư. Rồi bây giờ, nó là đường Thanh Niên.

Bạn thử hình dung coi. Mấy ông ngư phủ, xong buổi lưới, gánh đất đắp lại cái bờ. Năm này sóng lở một khúc, năm sau đắp lại khúc đó. Chỉ vì người ta cần một con đường để đi.

Bên kia con đê là hồ Trúc Bạch. Theo báo Hà Nội Mới, góc hồ này hồi xưa có hành cung của chúa Trịnh Doanh. Sau đó, nơi đây thành chỗ an trí những cung nữ có tội hoặc đã già. Họ trồng dâu, nuôi tằm, dệt ra một thứ lụa trắng ngà, mềm, mỏng, kêu là lụa Làng Trúc. Cái tên Trúc Bạch có từ đó.

Một bên là ngư phủ đắp đê, một bên là những người phụ nữ bị đưa ra khỏi cung, ngồi dệt lụa bên hồ. Toàn là những người bình thường, mà tên của họ còn nằm trong tên đất.

Rồi tới tên của ngôi chùa. Theo báo Pháp Luật Việt Nam, chùa từng tên An Quốc, tới năm một nghìn sáu trăm ba mươi tám đổi thành Trấn Quốc. Báo Giác Ngộ thì ghi tên Trấn Quốc được đặt chính thức vào cuối thế kỷ mười bảy. Năm một nghìn tám trăm bốn mươi bốn, chùa lại được đổi tên là Trấn Bắc. Mà theo báo Pháp Luật Việt Nam, người Thăng Long trước sau vẫn cứ kêu là chùa Trấn Quốc.

Vương thấy cái đó dễ thương. Tên trên giấy đổi tới đổi lui, mà tên trong miệng người ta thì giữ hoài một cái.

Theo báo Giác Ngộ, chùa nằm trên một bán đảo nhỏ phía đông Hồ Tây, ngay cuối con đường Cổ Ngư. Theo Wikipedia, trong chùa còn những pho tượng có từ năm một nghìn sáu trăm ba mươi chín. Gần bốn trăm năm rồi, mấy pho tượng đó vẫn còn trong chùa. Con đê thì năm nào cũng đắp lại, còn trong chùa thì có những thứ cứ lặng lẽ ở yên một chỗ, chờ người ta tới.

Còn ngọn tháp đỏ mà mình ngó thấy từ xa, thì mới hơn nhiều. Theo báo Giác Ngộ, đó là bảo tháp Lục độ đài sen, xây năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, cao mười lăm mét, có mười một tầng. Mỗi tầng có sáu ô cửa vòm, trong mỗi ô là một pho tượng Phật A Di Đà. Trên đỉnh là một đài sen chín tầng.

Vương đứng trên con đường, một bên mặt hồ lặng, một bên mặt hồ gợn, mà nghĩ hoài cái tên Cố Ngự. Giữ cho vững. Có những thứ không phải làm một lần là xong. Phải năm nào cũng đắp lại. Cái tình nghĩa vợ chồng, bạn bè, hàng xóm, chắc cũng vậy.

Nếu bạn có dịp ra Hà Nội, đạp xe chậm trên đường Thanh Niên vào buổi sáng sớm. Ngó hai mặt nước hai bên. Nhớ rằng dưới bánh xe mình là con bờ đất của mấy ông ngư phủ, năm nào cũng đắp lại cho vững.

Bạn có giữ một mối quan hệ nào mà năm nào cũng phải vun lại không? Một người bạn ở xa, một người họ hàng ít gặp? Kể cho Vương nghe với nghen.

Những điều Vương kể về chùa Trấn Quốc và con đê Cổ Ngư hôm nay, mình lấy từ báo Pháp Luật Việt Nam, báo Hà Nội Mới, báo Giác Ngộ và Wikipedia.