Sài Gòn ngồi nghe mình kể

Sài Gòn xưa và nay

Một trăm địa danh và một trăm câu chuyện đời thường: thương xá, rạp hát, quán cà phê cũ, tiếng rao đêm. Sài Gòn của những người từng sống, từng hẹn hò, từng lớn lên ở đó.

Xem bản đồ Sài Gòn xưa →

Đạp Xe Kể Sài Gòn · Tập 31

Phố Của Người Thợ Bạc, Ông Thượng Thư Đưa Dân Làng Lên Kinh Và Ngôi Đình Mang Tên Vàng Bạc – Lửa Nhỏ Thợ Bạc

Đình Kim Ngân, 42–44 phố Hàng Bạc, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Chào bạn. Rời Nhà thờ Lớn, Vương đạp lên phố Hàng Trống, qua chỗ Cầu Gỗ, rồi rẽ vô một con phố nhỏ. Vô tới đây là phải xuống dắt xe. Phố hẹp, nhà ống san sát, hai bên toàn tiệm vàng, tiệm bạc. Đây là phố Hàng Bạc.

Người Sài Gòn mình nghe chữ phố cổ Hà Nội là nghe tới ba mươi sáu phố phường, mỗi phố một nghề. Hàng Bạc là một trong mấy con phố mà cái tên vẫn còn khớp với cái nghề. Sáng nay Vương kể chuyện ai đã làm ra con phố này.

Câu chuyện bắt đầu từ một cái làng cách Hà Nội khá xa, làng Châu Khê. Làng này ở Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng. Theo báo Văn Hóa, Châu Khê có nghề chế tác vàng bạc nổi tiếng từ hàng trăm năm.

Theo báo Nhân Dân, hồi giữa thế kỷ mười lăm, dưới đời vua Lê Thánh Tông, có một ông quan làm Thượng thư bộ Lại, tên Lưu Xuân Tín. Ông là người làng Châu Khê. Báo Văn Hóa giải thích rằng thời đó bạc nén là tiền tệ. Theo báo VietnamPlus, ông Tín được vua giao việc đúc bạc nén. Vậy là ông tập hợp thợ trong làng, đưa lên kinh thành Thăng Long, lập xưởng đúc vàng bạc nén, vừa để làm tiền cho cả nước, vừa làm đồ dùng trong cung.

Bạn thử hình dung coi. Một ông quan lớn, mà khi có việc lớn thì nhớ tới làng mình. Ông dắt bà con thợ thuyền lên kinh, giao cho họ cái việc cần sự tin cậy nhất: đúc ra tiền.

Theo báo Văn Hóa, chỗ người Châu Khê ở đầu tiên khi lên kinh là số năm mươi tám phố Hàng Bạc bây giờ. Vương dắt xe đi chậm, ngó số nhà, tới gần đó thì đứng lại một chút.

Có một điều Vương phải nói thiệt. Về cái mốc thời gian, các nguồn không khớp nhau hoàn toàn. Báo Nhân Dân năm hai nghìn mười chín và báo VietnamPlus đều nói chuyện xảy ra dưới đời vua Lê Thánh Tông, tức thế kỷ mười lăm. Còn một bài khác trên báo Nhân Dân năm hai nghìn hai mươi ba lại viết rằng người Châu Khê lên Thăng Long lập nghiệp từ thế kỷ mười sáu. Vương để cả hai mốc cho bạn.

Rồi tới khúc quanh của câu chuyện. Theo báo Nhân Dân, đầu thế kỷ mười chín, dưới triều Nguyễn, xưởng đúc bạc nén của triều đình được chuyển vô kinh thành Huế. Cái việc mà ông cha họ được đưa lên đây để làm, giờ không còn ở đây nữa.

Mà phần lớn thợ Châu Khê không về quê. Họ ở lại. Theo báo Văn Hóa, nhiều người chuyển qua làm đồ kim hoàn, từ đồ dùng trong nhà tới nhẫn, vòng, dây chuyền. Theo báo Nhân Dân, rồi thợ bạc ở hai làng Định Công và Đồng Xâm cũng tới đây lập nghiệp, chuyên làm đồ trang sức. Từ đó mà có phố Hàng Bạc.

Vương thích cái chỗ này lắm. Mất việc lớn, người ta không bỏ đi. Người ta cúi xuống làm việc nhỏ hơn, tỉ mỉ hơn. Từ đúc nén bạc chuyển qua chạm từng cái nhẫn, từng sợi dây chuyền.

Giữa phố có một ngôi đình. Theo báo Nhân Dân, đình Kim Ngân nằm ở số bốn mươi hai và bốn mươi bốn phố Hàng Bạc, xây vào cuối thế kỷ mười lăm, đầu thế kỷ mười sáu, thờ ông tổ của trăm nghề. Kim Ngân, nghĩa là vàng bạc. Theo báo VietnamPlus, người Châu Khê ra phố vẫn sống theo phường, theo giáp như ở quê, lập đình thờ thành hoàng làng và tổ nghề, gọi là Châu Khê vọng sở, nghĩa là chỗ ngó về Châu Khê.

Vương đứng trước cửa đình mà nghĩ. Người ta đi xa, mà vẫn dựng một cái chỗ để ngó về làng.

Cái nghề thì bây giờ khác xưa nhiều rồi. Theo báo Nhân Dân năm hai nghìn hai mươi ba, phố Hàng Bạc bây giờ chủ yếu là buôn bán, việc sản xuất ngày càng ít. Ở Định Công, nghề đậu bạc rất độc đáo mà chỉ còn một số ít hộ làm. Theo báo Văn Hóa, ở Hà Nội có gần một trăm năm mươi cửa hàng chế tác vàng bạc do người Châu Khê làm chủ. Và cái nguyên tắc sống còn của nghề, theo bài báo, là uy tín với sự trung thực.

Còn ở dưới quê thì nghề vẫn chưa mất. Theo báo VietnamPlus, đồ của thợ Châu Khê xưa có cả cành vàng, trâm ngọc, chén ngọc tiến vô cung vua. Năm hai nghìn lẻ bốn, Châu Khê được tỉnh Hải Dương công nhận là làng nghề. Bây giờ thợ làng làm nhiều nhất là lắc bạc, vòng tay, dây chuyền, nhẫn. Một đầu sợi dây là cái làng, một đầu là con phố giữa Hà Nội, mấy trăm năm chưa đứt.

Bạn nghĩ coi, một cái nghề mà từ đầu đã là đúc tiền cho cả nước. Vương nghĩ, cái người thợ phải giữ kỹ nhất, chắc là chữ tín.

Báo Nhân Dân có gặp một người thợ còn làm nghề trên phố, nghệ nhân Nguyễn Chí Thành ở số tám mươi ba Hàng Bạc. Ông nói: "Tôi rất yêu nghề và luôn muốn giữ lấy nghề truyền thống mà nhiều thế hệ gia đình tôi đã gắn bó, lập nghiệp".

Vương dắt xe ra khỏi phố, ngó lại mấy cái biển hiệu. Mấy trăm năm, từ một ông quan dắt thợ làng lên kinh, tới một người thợ bây giờ vẫn ngồi gõ từng chút bạc. Thợ ở lại, nghề ở lại, nên phố mới ở lại.

Nếu bạn có dịp ra Hà Nội, đi bộ chậm qua phố Hàng Bạc. Ghé đình Kim Ngân, ngó số năm mươi tám. Nhớ tới những người thợ đã không bỏ về quê khi cái việc lớn của họ bị dời đi.

Nhà bạn có ai làm một cái nghề truyền qua mấy đời không? Ông thợ may, bà thợ bánh, hay một người thợ bạc? Kể cho Vương nghe với nghen.

Những điều Vương kể về phố Hàng Bạc và ông Lưu Xuân Tín hôm nay, mình lấy từ báo Nhân Dân, báo Văn Hóa và báo VietnamPlus.