Sài Gòn ngồi nghe mình kể

Sài Gòn xưa và nay

Một trăm địa danh và một trăm câu chuyện đời thường: thương xá, rạp hát, quán cà phê cũ, tiếng rao đêm. Sài Gòn của những người từng sống, từng hẹn hò, từng lớn lên ở đó.

Xem bản đồ Sài Gòn xưa →

Đạp Xe Kể Sài Gòn · Tập 8

Những Người Đi Thuyền Và Ngôi Miếu Thờ Bà Ở Chợ Lớn – Khói Nhang Gọi Thuyền Về

710 Nguyễn Trãi, phường Chợ Lớn (Quận 5 cũ)

Chào bạn. Sáng nay Vương đạp xe vô Chợ Lớn, chạy dọc đường Nguyễn Trãi. Tới một khúc, chưa thấy cổng mà đã ngửi thấy mùi nhang. Ngó qua là một ngôi miếu cổ, trên nóc đầy tượng gốm nhỏ xíu. Người Chợ Lớn gọi chỗ này là chùa Bà. Tên đầy đủ là Miếu Thiên Hậu, còn có tên là Hội quán Tuệ Thành.

Tuệ Thành là tên cũ của thành phố Quảng Châu, bên Trung Hoa. Nghe cái tên là biết, ngôi miếu này do người Quảng Đông dựng lên. Mà họ dựng từ hồi nào? Theo các tài liệu, khoảng năm một nghìn bảy trăm sáu mươi. Tức là hơn hai trăm sáu chục năm trước, hồi Chợ Lớn còn chưa ra Chợ Lớn như bây giờ.

Sáng nay Vương kể bạn nghe chuyện của Bà, và chuyện của những người đi thuyền đã đem Bà tới đây.

Bà Thiên Hậu là ai? Theo học giả Vương Hồng Sển, Bà tên là Lâm Mặc Nương, quê ở đảo Mi Châu, vùng Phước Kiến, từ đời nhà Tống. Một cô gái làng chài, lớn lên giữa sóng gió.

Truyền thuyết kể lại một chuyện mà Vương nghe xong thấy thương lắm. Có một lần, cha với hai anh của cô đi biển, gặp bão. Người ta nói, bằng phép lạ, cô ra giữa sóng cứu cha cứu anh. Cô dùng răng cắn chặt chéo áo của cha, hai tay nắm hai người anh. Đúng lúc đó, mẹ cô kêu. Cô mở miệng đáp lời mẹ. Vậy là cái chéo áo tuột ra, con sóng lớn ập tới, cuốn cha cô đi mất.

Bạn nghe có xót không. Chỉ vì một tiếng đáp lời mẹ, mà không giữ được cha. Một cô gái hiếu thảo, mà chính cái hiếu thảo đó làm cô mất người cha.

Từ đó, người ta tin cô có phép, cứu được người gặp nạn trên biển. Dân làng chài, dân đi buôn bằng thuyền, cứ gặp sóng gió là khấn cô. Về sau, các triều vua bên Trung Hoa sắc phong cho cô, tới tước hiệu Thiên Hậu. Người Việt mình gọi gọn là Bà, hay Bà Thiên Hậu.

Đó là truyền thuyết. Còn chuyện sau đây là chuyện có thiệt, có khắc trên đá.

Hồi xưa, người Hoa đi thuyền nhỏ xuống phương Nam làm ăn. Thuyền thì nhỏ, biển thì rộng, sóng gió thì không biết đâu mà lường. Trên tấm bia ghi chuyện trùng tu ngôi miếu này, người ta còn khắc một câu, kể về những người đi thuyền đó: "Mỗi lần dong buồm đi về đều khẩn cầu Thiên Hậu phù hộ."

Bạn thử hình dung coi. Người ta ngồi chen trên chiếc thuyền buồm nhỏ, bỏ lại làng xóm, bỏ lại mồ mả ông bà, đi về một vùng đất mà mình chưa thấy bao giờ. Ngoài cái thân mình, thứ họ mang theo là một lời khấn với Bà.

Tới được đất này rồi, sống được rồi, làm ăn khá lên rồi, họ dựng một ngôi miếu thờ Bà. Để cảm ơn. Mà cũng để có một chỗ mà người cùng quê tụ lại với nhau, nói tiếng quê, ăn món quê. Cho nên nó vừa là miếu, vừa là hội quán.

Rồi người sau cứ góp tiền sửa sang. Theo tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, miếu được trùng tu lớn lần đầu năm một nghìn tám trăm, rồi tiếp mấy lần nữa, năm một nghìn tám trăm bốn mươi hai, năm một nghìn chín trăm mười sáu. Ở tiền điện còn mấy tấm bia ghi công đức những người góp tiền trùng tu qua các đời.

Bạn ngước lên mái coi. Trên nóc có mấy dãy tượng gốm nhỏ xíu, đủ thứ cảnh: cảnh thi đỗ về làng lạy tổ, cảnh đánh võ đài, cảnh hai con rồng tranh ngọc. Theo trang VinWonders, mấy tượng gốm này làm ở lò Bửu Nguyên và lò Đồng Hòa. Mỗi tượng một dáng, ngồi ngó cả buổi không hết.

Bước vô trong, bạn sẽ thấy những vòng nhang to treo trước chánh điện, cháy từ từ, khói bay lên thành sợi. Người ta mua vòng nhang, viết điều mình mong lên giấy, rồi treo lên. Theo tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, trong miếu còn giữ khoảng bốn trăm hiện vật cổ, nào tượng thần, bia đá, chuông, lư hương, hoành phi, câu đối.

Ngày bảy tháng một năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, chùa Bà được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Mỗi năm, tới ngày hai mươi ba tháng ba âm lịch là ngày vía Bà. Tượng Bà được đặt lên kiệu, rước đi qua mấy con đường quanh chùa, có múa lân, múa rồng, tiếng nhạc rộn ràng cả một vùng Chợ Lớn.

Vương đứng đây, ngó khói nhang bay, mà nghĩ tới mấy người đi thuyền năm xưa. Họ tới đây tay trắng, nói tiếng khác, ăn món khác. Mà giữa bao nhiêu lo toan cơm áo, họ vẫn góp nhau dựng lên một chỗ để thờ, để nhớ, để tụ lại với nhau.

Sài Gòn mình là vậy đó. Người từ khắp nơi tới, ai cũng mang theo một chút quê mình. Người Quảng Đông mang theo Bà. Người miền Trung mang theo giọng nói. Người miền Bắc mang theo món phở. Rồi tất cả trộn vô nhau, thành ra cái Sài Gòn mà mình thương.

Bây giờ người tới chùa Bà đâu chỉ có người Hoa. Người Việt cũng tới, khách Tây cũng tới. Ai cũng có một điều muốn khấn, một người muốn cầu cho bình an. Giống y như mấy người đi thuyền năm xưa, ngồi giữa biển, khấn một câu.

Nếu bạn có dịp vô Chợ Lớn, ghé chùa Bà một chút. Không cần khấn vái gì cũng được. Chỉ cần đứng trong sân, ngó lên mấy vòng nhang, nghĩ tới những chiếc thuyền buồm nhỏ xíu giữa biển rộng, hơn hai trăm năm trước.

Nhà bạn có ai từ nơi khác tới Sài Gòn lập nghiệp không? Ông bà mình mang theo cái gì từ quê lên? Kể cho Vương nghe với nghen.

Những điều Vương kể về chùa Bà Thiên Hậu hôm nay, mình lấy từ tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, trang VinWonders và Wikipedia.