Đạp Xe Kể Sài Gòn · Tập 6
Anh Phụ Bếp Tên Văn Ba Và Chuyến Tàu Rời Bến Nhà Rồng – Đi Cho Thấy Biển
Số 1 Nguyễn Tất Thành, phường Xóm Chiếu (Quận 4 cũ)
Chào bạn. Sáng nay Vương đạp xe qua cầu Khánh Hội. Lên tới giữa cầu, ngó xuống là thấy chỗ kênh Bến Nghé đổ ra sông Sài Gòn. Gió sông thổi lên mát rượi. Đạp xuống chân cầu, quẹo một cái là tới một tòa nhà kiểu Tây, mà trên nóc lại có hai con rồng. Người Sài Gòn mình gọi chỗ này là bến Nhà Rồng.
Sáng nay Vương dừng xe ở đây, kể bạn nghe chuyện của một chàng trai hai mươi mốt tuổi, hơn một trăm năm trước, đã xuống tàu ở chính cái bến này, làm phụ bếp, để đi ra biển lớn.
Mà trước hết, mình nói chút về cái nhà. Theo báo Văn Hóa, tòa nhà này được xây từ giữa năm một nghìn tám trăm sáu mươi hai, xong năm một nghìn tám trăm sáu mươi ba. Tức là một trong những công trình đầu tiên người Pháp cất lên sau khi chiếm Sài Gòn. Hồi đó, đây là trụ sở của một hãng tàu biển lớn của Pháp.
Còn cái tên Nhà Rồng thì giản dị lắm. Bạn ngó lên nóc coi. Nhà xây kiểu phương Tây, mà trên nóc người ta đắp hai con rồng chầu vô mặt trăng, kiểu "lưỡng long chầu nguyệt" như mái đình, mái chùa của mình. Người Sài Gòn xưa thấy vậy, kêu luôn là Nhà Rồng. Cái tên đó theo cái bến tới bây giờ.
Giờ Vương kể chuyện chàng trai nghen.
Anh tên Nguyễn Tất Thành. Ngày hai tháng sáu năm một nghìn chín trăm mười một, anh tới gặp chủ tàu Amiral Latouche-Tréville, tự giới thiệu tên là Ba, xin làm phụ bếp. Người ta nhận. Ngày hôm sau, anh nhận cái thẻ nhân viên, ghi tên Văn Ba. Và trưa ngày năm tháng sáu, con tàu rời bến Nhà Rồng.
Năm đó anh vừa tròn hai mươi mốt tuổi. Hai mươi mốt tuổi, cỡ tuổi mấy đứa sinh viên năm ba năm tư bây giờ.
Báo Pháp Luật Việt Nam có kể lại công việc của anh Ba trên tàu, theo lời một nhà nghiên cứu. Nhặt rau, vác khoai, rửa nồi, cào lò, xúc than. Toàn là việc nặng, việc dơ, dưới bếp tàu nóng hầm hập.
Còn tiền lương, theo cái sổ lương còn được sao lại, phụ bếp người Việt trên tàu được trả bốn mươi lăm franc một tháng, mà phụ bếp người Pháp thì được trả gấp ba. Trừ tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, tiền bảo hiểm, anh Ba chỉ còn cầm được mười franc.
Bạn thử hình dung coi. Một chàng trai đi biển lần đầu, làm việc từ sáng tới tối dưới bếp, cầm mấy đồng lương còm, mà vẫn đi.
Tàu chạy qua Singapore, qua Colombo bên Sri Lanka, qua cảng Suez bên Ai Cập. Khoảng một tháng sau thì tới Marseille, bên Pháp. Cuối năm đó, con tàu còn chạy về Sài Gòn một chuyến, rồi anh lại theo tàu đi tiếp.
Có một chi tiết nhỏ mà Vương thích lắm. Báo kể, trên tàu, sáng nào anh Ba cũng dậy sớm, ra ngắm mặt trời mọc trên biển. Đêm có trăng thì anh đi tới đi lui trên tàu. Rồi anh tranh thủ học tiếng Pháp, nhờ mấy anh thủy thủ người Pháp chỉ cho, tập viết từng chữ.
Vương đọc tới đó mà nghĩ, cái người dậy sớm ngắm mặt trời mọc giữa biển, chắc là người trong lòng có nhiều điều muốn biết lắm.
Mà anh đi để làm gì? Theo những gì sách báo ghi lại, anh nói muốn ra nước ngoài, coi các nước người ta làm ăn ra sao, rồi trở về giúp đồng bào mình.
Năm sau, năm một nghìn chín trăm mười hai, anh còn xin làm phụ bếp trên một chiếc tàu chở hàng, chạy vòng quanh châu Phi. Báo Pháp Luật Việt Nam dẫn lại một đoạn trong sách của Trần Dân Tiên. Có người bạn can anh, nói bên đó nắng nóng lắm, tàu chở hàng thì lắc lư, mà đi có một mình. Anh Ba trả lời, đại ý là mình còn trẻ, còn khỏe, chịu khổ được, và muốn đi cho biết các nước.
Nghe câu đó, Vương thấy nó giản dị mà chắc nịch. Còn trẻ, còn khỏe, chịu khổ được. Có bao nhiêu người trẻ rời nhà lên thành phố, rời thành phố ra nước ngoài, cũng mang theo đúng ba điều đó thôi.
Từ cái trưa tháng sáu đó, phải ba mươi năm bôn ba ở nước ngoài, anh mới trở về nước. Tới lúc đó, người ta không còn gọi anh là anh Ba phụ bếp nữa. Người Việt mình gọi ông là Bác Hồ.
Còn cái nhà có hai con rồng thì vẫn đứng đây. Sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, nơi này được giữ lại, thành khu lưu niệm, rồi thành Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Thành phố. Ngày năm tháng sáu cũng thành ngày truyền thống của Cảng Sài Gòn. Rồi tới năm hai nghìn không trăm mười sáu, cả khu cảng Nhà Rồng, Khánh Hội dời về Hiệp Phước. Bây giờ đứng đây, mình không còn thấy tàu lớn cập bến như xưa nữa. Chỉ còn mặt sông, gió sông, với cái nhà cũ nhìn ra.
Vương đứng đây, ngó ra mặt sông, cứ nghĩ tới cái trưa đó. Một chàng trai đứng trên boong, ngó lại cái bến này. Không biết lúc đó anh nghĩ gì. Mà chắc chắn một điều, anh không mang theo gì nhiều. Một cái tên mới, một công việc dưới bếp, với cái ý muốn đi cho thấy.
Có khi, cái mình mang theo khi rời nhà không phải là tiền, không phải là đồ đạc. Mà là cái lý do mình đi. Lý do đủ lớn, thì nhặt rau, rửa nồi, xúc than cũng đi được.
Nếu bạn có dịp ghé bến Nhà Rồng, thử đứng phía bờ sông một chút. Ngó lên hai con rồng trên nóc, rồi ngó ra hướng cửa sông. Nghĩ tới một chàng trai hai mươi mốt tuổi, đi ra từ đây, với hai bàn tay làm việc và một cái đầu muốn học.
Bạn có ai trong nhà từng rời quê đi xa từ hồi còn rất trẻ không? Hay chính bạn cũng từng xách va li đi như vậy? Kể cho Vương nghe với nghen.
Những điều Vương kể về bến Nhà Rồng và chuyến tàu năm đó hôm nay, mình lấy từ báo Pháp Luật Việt Nam, báo Văn Hóa, báo Znews và Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh.