Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 74

Phạm Trọng Cầu – Chiếc lá vàng ở vườn Luxembourg

Một buổi chiều ở vườn Luxembourg

Có một chàng trai Việt Nam, khoảng gần ba mươi tuổi, vừa từ sân bay đi về giữa lòng Paris. Anh vừa tiễn một người con gái lên máy bay về nước. Trời đã vào thu. Trên đường về, anh đi ngang qua vườn Luxembourg, một khu vườn lớn và rất cũ ở Paris, nơi người ta hay ngồi đọc sách dưới những hàng cây.

Lá vàng rụng đầy lối đi. Anh bước trên lá, nghe tiếng lá vỡ lạo xạo dưới chân. Và theo lời chính anh kể lại nhiều năm sau, đúng lúc đó, một giai điệu vang lên trong đầu.

Giai điệu ấy về sau thành một bài hát mà nhiều thế hệ người Việt thuộc lòng, chỉ cần nghe câu mở đầu là nhận ra. Bài hát tên là Mùa thu không trở lại.

Chàng trai ấy là Phạm Trọng Cầu. Hồi đó, ông ký tên trên các bài hát chỉ bằng hai chữ Phạm Trọng. Nhiều người nghe nhạc ông mấy chục năm mà vẫn không biết hai cái tên ấy là một người.

Hôm nay mình kể bạn nghe về ông. Một người viết tình ca mùa thu ở Paris, và cũng là người viết những bài hát cho trẻ con hát dưới mái trường làng.

Cậu bé Nam Vang và cây đàn nhỏ

Theo lời ông kể với nhà báo Hà Đình Nguyên, ông sinh ngày hai mươi lăm tháng mười hai năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm, ở Nam Vang, tức là thủ đô Phnôm Pênh của nước Campuchia bây giờ. Có nguồn ghi năm sinh của ông sớm hơn hai năm, nhưng phần lớn tư liệu đều ghi năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm.

Cha ông là ông Phạm Văn Lạng, một trắc địa sư, nghĩa là người làm nghề đo đạc đất đai, gốc người Hà Nội. Mẹ ông là bà Đào Thị Ngọc Thư. Một gia đình gốc Bắc, sống ở Nam Vang, rồi về sau lại gắn bó với Sài Gòn và miền Tây. Ngay từ nhỏ, cuộc đời cậu bé đã là chuyện của nhiều vùng đất.

Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, gia đình về Sài Gòn. Mẹ ông mở một nhà hàng ca nhạc, lấy tên là Aristo. Thử hình dung một cậu bé chừng tám tuổi, buổi tối ngồi ở góc nhà hàng của mẹ, nghe người ta đàn hát. Chính ở đó, cậu bắt đầu học đàn măng đô lin, một cây đàn nhỏ có thân tròn như trái lê bổ đôi, tiếng trong và rung như tiếng chim.

Thời gian học đàn ấy không dài. Gia đình dời chỗ ở mấy lần, có lúc lên Biên Hòa, có lúc trở về Sài Gòn, rồi xuống miền Tây. Cậu bé đi học trường tiểu học ở Vũng Liêm, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Một cậu bé sinh ở Nam Vang, gốc cha ở Hà Nội, lại đi học giữa vùng sông nước miền Tây. Mình nghĩ những năm ấy đã để lại trong ông một thứ rất riêng: cái nhớ về một ngôi trường nhỏ, một con đường làng, những người bạn tuổi thơ.

Năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, ông thi vào trường âm nhạc và kịch nghệ ở Sài Gòn. Cũng quãng tuổi đôi mươi ấy, ông viết bài Trường làng tôi. Nhà báo Hà Đình Nguyên ghi rằng ông viết bài này năm mười tám tuổi, gợi lại từ những ngày thơ ấu. Báo Sài Gòn Giải Phóng thì ghi năm sáng tác sớm hơn. Mình chỉ dám nói là ông viết khi còn rất trẻ.

Trường làng tôi viết theo nhịp valse, tức là nhịp ba, cái nhịp đung đưa như người ta đi bộ thong thả, như chiếc võng đưa qua đưa lại. Báo Sài Gòn Giải Phóng gọi đó là một điệu valse dễ thương và gần gũi. Giai điệu không cầu kỳ, ai hát một lần cũng dễ nhớ. Nghe bài hát, người ta thấy lại mái trường, hàng cây, tiếng trống, mấy đứa bạn cùng lớp. Và hình như ai cũng thấy ngôi trường của chính mình trong đó.

Lá vàng dưới chân

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, ông thi vào Nhạc viện Paris. Sang tới nơi, ông là một sinh viên Việt Nam giữa thành phố của những chàng nghệ sĩ và những mùa thu rất đẹp. Theo trang Thi Viện, ông theo học khá lâu ở Pháp, chuyên về đối âm và tẩu pháp, tức là cách cho nhiều dòng giai điệu đi song song và đuổi theo nhau trong một bản nhạc.

Nhưng người ta nhớ ông không phải vì những bài học khó ấy. Ở Paris, ông viết một tập gồm mười hai bài hát, ông gọi là mười hai bài ca quen thuộc trên đất Pháp. Trong tập ấy có Mùa thu không trở lại.

Câu chuyện ra đời của bài hát, ông kể lại với nhà báo Hà Đình Nguyên. Ở Paris, ông gặp và yêu một cô gái Việt Nam. Ông nói một câu rất đẹp: tình yêu đang độ trăng rằm thì nàng phải về nước. Hai người chia tay nhau vào mùa thu. Tiễn nàng ra sân bay xong, trên đường về ông đi qua vườn Luxembourg. Lá vàng dưới chân. Và giai điệu bật lên.

Ông còn nói thêm rằng, từ mùa thu ấy, mùa thu không bao giờ trở lại nữa. Nhà báo hỏi có phải cô gái tên là Thu không, ông không xác nhận. Mình thấy cũng hay. Có những tên người, giữ lại cho riêng mình thì đẹp hơn.

Bài hát mở đầu bằng một câu rất giản dị, Em ra đi mùa thu. Chỉ có năm chữ, không có hình ảnh gì cầu kỳ. Vậy mà vì câu mở đầu ấy, nhiều người quen gọi luôn bài hát là Em ra đi mùa thu.

Nghe Mùa thu không trở lại, mình thấy nó chậm, buồn, nhưng không than khóc. Giai điệu đi từng bước như người đang đi bộ một mình trên con đường lá, rồi có những chỗ ngân dài như người dừng lại, ngoái nhìn. Trong bài có Paris, có lá vàng, có dòng sông Seine. Nhưng cái nỗi buồn trong đó thì rất Việt Nam, rất giống những bài hát mùa thu cũ mà ông bà mình từng nghe.

Bài hát được nhiều giọng ca thu âm. Trang Thi Viện ghi lại những người từng hát bài này, có Thái Thanh, Anh Ngọc, rồi sau này có Ánh Tuyết, Sĩ Phú, Vũ Khanh. Mỗi giọng một màu, nhưng bài hát vẫn giữ được cái dáng đi chậm rãi của nó.

Có một bạn đọc gửi bài cho báo VnExpress, kể chuyện mình đi Paris vào mùa xuân. Vậy mà suốt chuyến đi, điệp khúc của bài hát cứ vang trong đầu. Bạn ấy nhắc đến dòng sông Seine của ông Phạm Trọng Cầu khi xưa. Một bài hát viết từ mấy chục năm trước, đến giờ vẫn đi theo người Việt sang tận Paris như vậy đó.

Về sau, ông thêm chữ Cầu vào tên ký trên bài hát, cho đúng với tên trong giấy khai sinh. Từ đó, người ta biết ông là Phạm Trọng Cầu. Nhưng trên nhiều bản thu cũ, người ta vẫn thấy ghi hai chữ Phạm Trọng.

Bài thơ cho một em bé vừa chào đời

Có một câu chuyện nhỏ mà mình rất thích, về một bài thơ và một bản nhạc.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, có một sinh viên y khoa đang thực tập ở Bệnh viện Từ Dũ, Sài Gòn. Một đêm trực, anh đỡ ca sinh đầu tiên trong đời. Đêm đó, anh viết một bài thơ tên là Thư cho bé sơ sinh. Người sinh viên ấy là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, về sau cũng là một người viết văn, làm thơ được nhiều người yêu mến.

Bài thơ được in trên báo, rồi được in lại trong một tạp chí y khoa. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đọc được bài thơ ở đó và phổ nhạc. Hai người khi ấy chưa hề quen biết nhau.

Theo lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc kể trên trang viết của mình, nhiều năm sau, nhạc sĩ tự tìm đến tận nhà ông, để tặng bản nhạc. Đó là lần đầu tiên hai người gặp mặt. Một người viết bài thơ cho một em bé vừa chào đời. Một người khác đọc được, giữ trong lòng, viết thành bài hát, rồi đi tìm người kia để trao tận tay. Mình nghĩ, có những tình bạn bắt đầu như vậy.

Ca sĩ Thu Vàng là người hát thử bản nhạc ấy, chỉ với một cây đàn ghi ta đệm đơn giản. Chị kể rằng bài hát không dễ hát, vì ông dùng nhiều điệu thức, nghe gần như một bài hát kịch. Đó là cái người học nhạc ở Paris để lại trong ông. Nhưng ông không dùng cái học ấy để làm khó người nghe. Ông dùng nó để kể một chuyện rất đời: một em bé vừa cất tiếng khóc đầu tiên.

Có lẽ cũng từ những bài thơ về con trẻ như thế, mà về sau người ta biết đến ông qua một bài hát khác, còn quen thuộc hơn nữa. Bài Cho con.

Trường làng của mỗi người

Cho con là bài hát ông phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Tuấn Dũng. Một bài hát về tình thương của cha mẹ dành cho con. Nhiều đứa trẻ lớn lên đã hát bài này ở trường, ở nhà, trong những buổi văn nghệ cuối năm.

Năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, đúng dịp Quốc tế Thiếu nhi, ca sĩ Đoan Trang cho con gái bảy tuổi của mình là bé Sol hát lại bài Cho con. Chị nói với báo VnExpress rằng đó là bài hát quen thuộc lúc nhỏ của chị. Bé Sol muốn tặng bản thu ấy làm quà sinh nhật cho ông ngoại. Một bài hát về cha mẹ và con cái, mấy chục năm sau lại được một đứa cháu hát tặng ông mình. Mình nghĩ, ông nhạc sĩ mà biết được chắc cũng mỉm cười.

Những năm sau này, ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông dành rất nhiều thời gian cho âm nhạc thiếu nhi. Báo VnExpress kể rằng ông lập ra những nhóm hát cho trẻ con, trong đó có nhóm Dây leo xanh, và nhiều em nhỏ từ những nhóm ấy về sau đã trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Cũng theo báo VnExpress, phần lớn ca khúc của ông viết theo nhịp valse. Ước mơ hồng, Nhịp cầu tre, Mùa xuân trường làng em. Mình thấy cái nhịp ba đung đưa ấy hợp với trẻ con lắm. Nó giống như bước chân nhún nhảy của một đứa bé đang đi học về, vừa đi vừa hát.

Ông cũng rất quý những người cùng viết cho thiếu nhi. Báo Hà Tĩnh kể rằng, khi còn sống, ông từng gọi nhạc sĩ Phong Nhã là vua nhạc thiếu nhi. Một người đã học tới tận Nhạc viện Paris, lại đem hết lòng ra viết cho trẻ con và trân trọng những người làm việc ấy. Mình thấy điều đó nói về ông nhiều hơn mọi danh hiệu.

Ông mất năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có nguồn kể rằng chừng hai tháng trước đó, ông còn về thăm cù lao Quới Thiện, ở Vĩnh Long, gần Vũng Liêm, nơi ngày xưa cậu bé đi học trường làng. Nếu đúng vậy, thì ông đã kịp về lại cái vùng sông nước ấy một lần, trước khi đi xa.

Năm hai nghìn không trăm lẻ ba, ở Cung Thiếu nhi Hà Nội, có một đêm nhạc tưởng nhớ ông cùng nhạc sĩ Mộng Lân. Những bài hát thiếu nhi của ông lại vang lên, bằng giọng của những đứa trẻ sinh ra sau khi ông đã mất.

Rồi đến một chương trình truyền hình gần đây, ca sĩ Trúc Nhân và Hứa Kim Tuyền hát lại Trường làng tôi. Báo Sài Gòn Giải Phóng viết rằng hai bạn hát nhẹ nhàng, không cầu kỳ. Trúc Nhân nói rằng dù ở thời nào, những buồn vui tuổi dại dưới mái trường xưa vẫn còn nguyên trong ký ức mỗi người.

Có một bạn đọc viết cho báo Tuổi Trẻ, tự hỏi có phải nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu viết bài Trường làng tôi cho riêng trường của mình không. Mình đọc câu đó mà thấy thương. Vì chắc chắn còn rất nhiều người khác cũng từng nghĩ y như vậy. Ông viết về một ngôi trường ở Vũng Liêm, hay ở đâu đó trong ký ức, nhưng ai nghe cũng thấy đó là trường làng của mình.

Vậy cái gì còn lại từ Phạm Trọng Cầu cho người nghe hôm nay? Mình nghĩ là sự dịu dàng. Ông viết về chia tay mà không trách móc. Viết về mùa thu ở xứ người mà nghe vẫn như mùa thu nhà mình. Viết cho trẻ con bằng cái nhịp đung đưa như bước chân đi học về.

Lần tới, nếu bạn đi trên một con đường có lá vàng rụng, thử bước chậm lại một chút. Nghe tiếng lá dưới chân. Biết đâu, như chàng sinh viên ở vườn Luxembourg năm nào, bạn cũng nghe thấy một giai điệu của riêng mình.

Tình Ca. Ở đây có bình an.