Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 73

Trọng Đài – Người viết nhạc cho phố đêm

Một bài hát sinh ra từ sân khấu

Mình kể bạn nghe về một buổi tối ở rạp kịch. Đèn trong khán phòng đã tắt. Trên sân khấu là một góc phố Hà Nội dựng bằng gỗ, bằng vải, bằng ánh đèn. Rồi giữa hai lớp kịch, có một bài hát cất lên. Người ta xem xong vở kịch, ra về, ngồi sau xe máy đi qua những con phố thật. Và bài hát vẫn còn theo họ về tới nhà.

Vở kịch ấy tên là Hà Nội đêm trở gió. Bài hát cũng mang đúng cái tên đó. Mấy chục năm trôi qua, nhiều người không còn nhớ ai đóng vai nào trong vở kịch. Nhưng bài hát thì vẫn còn đó, vẫn được hát trong những đêm nhạc về Hà Nội, nhất là khi trời bắt đầu trở lạnh.

Người viết nhạc cho bài hát ấy là Trọng Đài.

Ông sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi tám. Gốc ông ở phố Bát Đàn, một con phố nhỏ trong khu phố cổ Hà Nội. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến, một người bạn lâu năm, từng viết trên báo Nhân Dân rằng Trọng Đài là một người phố cổ đúng nghĩa: phóng khoáng, rộng rãi, sống hết lòng với bạn bè.

Ông là con trai của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Nho. Mình không tìm được nhiều tư liệu về người cha. Chỉ biết rằng cậu bé phố Bát Đàn lớn lên trong một nhà có người làm nhạc. Và rồi chính cậu cũng chọn con đường ấy.

Những năm đầu thập niên tám mươi, ông sang Nga học ở Nhạc viện mang tên Tchaikovsky, nhà soạn nhạc lớn của nước Nga. Ông học sáng tác, lý luận và chỉ huy dàn nhạc. Đó là một chương trình học rất dài, rất nặng, quanh năm với những bản tổng phổ dày cộm. Khoảng cuối thập niên ấy, ông trở về nước.

Mình nghĩ thử về cái hình ảnh đó. Một người con của phố cổ, đi học ở một xứ tuyết rất xa, rồi mang về những gì mình học được. Nhưng điều làm mình ngạc nhiên là, những bài hát được người ta nhớ nhất của ông lại không phải là những bản giao hưởng đồ sộ. Mà là những bài hát rất gần, rất đời, viết cho kịch nói và cho phim truyền hình.

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến có một nhận xét mình thấy rất đáng nghĩ. Ông viết rằng những bài hát làm nên tên tuổi của Trọng Đài thường được dựng lên trên nền một tác phẩm khác. Một vở kịch. Một bài thơ. Một bộ phim. Âm nhạc của ông như người khách đến sau, ngồi xuống bên một câu chuyện đã có sẵn, lắng nghe, rồi mới cất lời.

Và câu chuyện đầu tiên mình muốn kể, là câu chuyện của một con phố.

Hà Nội, một đêm gió về

Vở kịch Hà Nội đêm trở gió được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Phố của nhà văn Chu Lai. Cuốn tiểu thuyết ấy từng được giải thưởng của Nhà xuất bản Hà Nội năm một nghìn chín trăm chín mươi ba. Theo báo Nhân Dân, chính đạo diễn Hoàng Quân Tạo, khi đó đứng đầu Nhà hát Kịch Hà Nội, là người đặt nhà văn viết kịch bản sân khấu từ cuốn sách này.

Rồi đến bài hát. Nhạc của Trọng Đài, còn lời là của chính nhà văn Chu Lai. Báo Pháp luật Việt Nam ghi rõ là nhạc Trọng Đài, lời thơ Chu Lai. Báo Việt Nam News, tờ báo tiếng Anh của Thông tấn xã Việt Nam, cũng ghi đúng như vậy. Mình nhắc kỹ chỗ này, vì nhiều người vẫn nghĩ một bài hát hay như thế chắc do một người viết cả nhạc lẫn lời.

Thật ra, chuyện một nhà văn viết lời cho bài hát trong vở kịch của mình là chuyện rất tự nhiên. Người viết hiểu nhân vật của mình hơn ai hết. Họ biết nhân vật ấy đang nhớ gì, đang mất gì, đang đứng ở góc phố nào. Còn người làm nhạc thì phải tìm ra cái giọng để những điều đó được cất thành tiếng.

Mình không tìm được nguồn nào ghi chính xác năm vở kịch lên sân khấu. Chỉ biết, theo lời nhà văn Phạm Ngọc Tiến, khi ông gặp Trọng Đài ở một liên hoan sân khấu nhỏ tại Ninh Bình năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, thì Trọng Đài đã rất nổi tiếng với bài hát này rồi. Vậy là bài hát ra đời vào khoảng giữa thập niên chín mươi, hoặc sớm hơn một chút.

Báo Nhân Dân, trong một bài viết về nhà văn Chu Lai, có một câu mình rất thích. Bài báo nói rằng Hà Nội đêm trở gió nằm lòng trong nỗi nhớ của bao người, cho tới tận bây giờ, cùng với bài hát trùng tên của nhạc sĩ Trọng Đài. Nghĩa là vở kịch và bài hát đã đi cùng nhau, rồi bài hát còn đi xa hơn cả vở kịch.

Nghe Hà Nội đêm trở gió, mình không thấy một Hà Nội rực rỡ. Mình thấy một Hà Nội về khuya. Đường vắng, lá rơi, một người đứng một mình nghe gió đổi chiều. Nhạc đi chậm, nhiều chỗ ngân dài, như người ta thở ra trong trời lạnh. Giai điệu không cố làm cho buồn, nhưng cứ thế mà chùng xuống, như khi mình chợt nhớ một điều đã cũ.

Có lẽ vì bài hát sinh ra từ sân khấu, nên nó có cái chất của một lời độc thoại. Một nhân vật nói với chính mình, nói với thành phố, trong một đêm mà không ai nghe thấy. Người ngồi dưới khán phòng nghe, rồi tự nhiên thấy đó là lời của mình.

Những năm sau, bài hát được nhiều giọng ca hát lại, trong nhiều đêm nhạc về Hà Nội. Mỗi người hát một kiểu, nhưng cái không khí của một đêm gió về thì vẫn vậy. Hễ cuối thu đầu đông, gió lạnh tràn về, là có người nhớ tới bài hát này.

Còn bài hát thứ hai làm nên tên tuổi Trọng Đài, thì lại bắt đầu từ một bài thơ của một người em viết cho chị mình.

Bài thơ người em viết cho chị

Giữa thập niên chín mươi, truyền hình có một bộ phim dài tập tên là Người Hà Nội. Theo báo Nhân Dân, phim do hai đạo diễn Hoàng Tích Chỉ và Đoàn Lê thực hiện, và được người xem đón nhận rất nồng nhiệt. Bài hát chủ đề của phim tên là Chị tôi. Nhạc của Trọng Đài.

Lời của bài hát lấy từ một bài thơ. Bài thơ ấy tên là Cho một ngày sinh, của nhà thơ Đoàn Thị Tảo. Và đây là chỗ câu chuyện trở nên đẹp lạ lùng.

Nhà văn Hồ Anh Thái có một bài viết đăng trên báo Văn Nghệ, sau được VnExpress đăng lại, kể về đạo diễn Đoàn Lê. Trong bài, ông cho biết Đoàn Thị Tảo chính là em gái của Đoàn Lê. Bài thơ Cho một ngày sinh là bài người em viết tặng chị mình. Hai chị em sống ở hai căn nhà sát vách nhau ngoài Đồ Sơn. Người chị viết tiểu thuyết trên máy tính. Người em viết thơ bằng tay.

Bạn thử hình dung xem. Một người chị làm phim về Hà Nội. Trong phim có một bài hát. Và lời bài hát ấy, là những câu thơ mà em gái mình đã viết cho mình, nhân một ngày sinh nhật. Mình không tìm được nguồn nào kể lại vì sao bài thơ ấy được chọn. Nhưng chỉ riêng chuyện nó được chọn thôi, mình đã thấy ấm lòng.

Trọng Đài phổ nhạc bài thơ ấy. Và bài hát đi ra khỏi bộ phim, sống một đời riêng của nó. Báo Nhân Dân viết rằng Chị tôi trở thành bài hát mà cả người không xem phim cũng thuộc. Ca sĩ Mỹ Linh là một trong những người đầu tiên hát thành công bài này. Về sau còn có một video ca nhạc, với sự góp mặt của Nghệ sĩ Nhân dân Lê Khanh.

Có một điều thú vị mà báo VnExpress từng nhắc. Chị tôi không hề nói thẳng về Hà Nội. Không có tên phố, không có tên hồ. Vậy mà người ta vẫn hay xếp nó vào danh sách những bài hát hay nhất về Hà Nội. Có lẽ vì cái tình chị em trong đó, cái nhẹ nhàng, kín đáo trong đó, rất giống với cách người Hà Nội thương nhau.

Nghe Chị tôi, mình thấy nhạc như đi theo từng câu thơ, không vội. Giai điệu mềm, chỗ lên chỗ xuống đều rất tự nhiên, như người ta đọc thơ thành tiếng rồi tự nhiên câu thơ ngân lên thành nhạc. Có những câu hát nghe như lời thì thầm. Có những câu mở ra, rộng hơn, như một tiếng gọi. Bài hát không có gì ồn ào. Chỉ có một người em nhớ chị, nói khẽ thôi mà ai cũng nghe.

Sau Người Hà Nội, Trọng Đài còn viết nhạc cho rất nhiều phim truyền hình. Chuyện phố phường. Đất và người. Đường đời. Mùa lá rụng. Hương đất. Nhiều bộ phim mang tên nào thì bài hát chủ đề mang tên ấy. Báo Nhân Dân ghi rằng ông có hơn bốn mươi ca khúc viết cho phim, bên cạnh hàng trăm tác phẩm khí nhạc, tức là nhạc chỉ dành cho nhạc cụ, không lời.

Một thời, cứ tối tối, cả nhà ngồi quanh cái ti vi chờ phim. Bài hát mở đầu vang lên là biết phim sắp chiếu. Nghe nhiều tới mức thuộc lúc nào không hay. Nhạc của Trọng Đài đã đi vào nhà người ta theo cách giản dị như thế. Và trong rất nhiều bài hát ấy, có một giọng hát rất quen.

Ở nhà là chồng, đi làm là thầy

Giọng hát ấy là của ca sĩ Mai Hoa, vợ ông.

Mai Hoa kể với báo Tuổi Trẻ rằng vào năm hai nghìn, Trọng Đài được mời làm nhạc cho bộ phim truyền hình Làm mẹ. Ông rủ vợ hát. Bài hát được người xem đón nhận, và từ đó chị bắt đầu hát nhạc phim. Rồi chị hát trong Đất và người, Mùa lá rụng, Đường đời, Hương đất, và nhiều phim khác nữa.

Có một bài chị nhắc riêng, là Tiễn biệt những ngày buồn trong phim Ngõ lỗ thủng. Chị kể trong một bài phỏng vấn cuối năm hai nghìn không trăm mười rằng lúc đầu bài ấy rất khó hát, phải một thời gian sau người nghe mới dần thấy thấm. Mình thấy câu chuyện nhỏ này nói được nhiều điều. Có những bài hát không chiều lòng người nghe ngay. Nó đợi người ta.

Nhưng Mai Hoa cũng nói rõ, không phải phim nào ông cũng chọn vợ hát. Có lúc ông thử những giọng khác. Với ông, giọng nào hợp với bộ phim thì giọng ấy hát. Chị nói với báo Tuổi Trẻ một câu mà mình nhớ mãi: trong gia đình anh ấy là chồng, với công việc anh ấy là thầy.

Cũng trong lần trò chuyện ấy, chị kể rằng ông là người rất kỹ trong nghề. Ông không chịu để sản phẩm âm nhạc của vợ làm trên máy. Phải là dàn nhạc sống, người thật chơi đàn thật. Chị nói, anh Đài là người yêu cái sống của âm nhạc, và không chấp nhận một thứ âm nhạc chết.

Vì cái tính ấy, ông chịu chi cho âm nhạc rất mạnh tay. Mai Hoa kể nửa đùa nửa thật, làm nhạc bao nhiêu năm mà hai vợ chồng vẫn ở trong một ngôi nhà nằm sâu trong ngõ. Ở nhà, chị tả ông là người giản dị, hóm hỉnh, rất thương con. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến thì viết rằng ông có một người vợ tài danh và hai cô con gái mà ông thương như hai thiên thần.

Bạn bè ông cũng có những câu chuyện vui. Vẫn nhà văn Phạm Ngọc Tiến, người bạn ấy viết rằng một nhạc sĩ nổi tiếng như Trọng Đài mà hát thì hiếm khi đúng nhạc, kể cả bài của chính mình. Mình đọc tới đó thì bật cười. Hóa ra người viết ra những giai điệu cho bao người hát, lại là người để dành tiếng hát cho người khác.

Cuối năm hai nghìn không trăm mười, chương trình Con đường âm nhạc trên Đài Truyền hình Việt Nam dành riêng một đêm cho ông. Chương trình truyền hình trực tiếp từ Cung Văn hóa Hữu nghị ở Hà Nội. Hai vợ chồng cùng đứng trên sân khấu. Cùng hát với họ là Mỹ Linh, Đức Tuấn, Đăng Dương, Thanh Thanh Hiền. Một đêm nhạc phim và tình ca, kể lại một con đường làm nhạc bằng chính những bài hát.

Tiếng rao và những dấu chân

Ngoài nhạc phim, Trọng Đài còn là một người thầy. Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng, một học trò của ông, kể với báo VietNamNet rằng thầy đặc biệt chú ý tới cái chất bản địa trong giai điệu. Tức là viết gì thì viết, giai điệu phải nghe ra là của người Việt. Anh Hùng còn kể, có những buổi chiều thầy bắt học trò viết hai, ba bài hát liền.

Ông cũng phổ nhạc thơ của nhiều người. Riêng với nhà thơ Trần Ninh Hồ, theo báo VietNamNet, ông đã phổ tới mười một bài. Trong đó có Bao giờ cho tới sớm mai, do Mai Hoa hát. Đọc tên bài thôi, mình đã thấy một nỗi chờ. Chờ trời sáng, chờ một người, chờ một điều gì đó rất đời.

Trong phần khí nhạc của ông, có một tác phẩm mà mình rất muốn được nghe, tên là Tiếng rao. Bạn nhớ không, những tiếng rao trong ngõ nhỏ Hà Nội ngày xưa. Tiếng rao bánh mì, tiếng rao xôi, tiếng người đồng nát. Một người gốc phố Bát Đàn đem những âm thanh ấy vào nhạc cho dàn nhạc chơi. Mình nghĩ, đó cũng là một cách để giữ lại một con phố.

Ông từng làm Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, rồi về làm việc ở mảng âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Nhạc phim của ông từng nhiều lần được giải Cánh diều, giải thưởng hằng năm của giới điện ảnh.

Tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi tư, Dàn nhạc Giao hưởng, Nhạc vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh dàn dựng một đêm thanh xướng kịch dành cho ông. Thanh xướng kịch là một hình thức có dàn nhạc, có hợp xướng, có người hát đơn, kể một câu chuyện bằng âm nhạc mà không cần dựng cảnh như nhạc kịch. Đêm ấy tên là Dấu chân thời gian.

Kịch bản do họa sĩ Hoàng Hà Tùng viết, cũng là một người bạn lâu năm của ông. Theo báo Văn hóa, đêm diễn có mười lăm ca khúc, chia làm ba chương mang tên Bình minh, Mắt tằm và Châu thổ. Có những sáng tác mới, có những tác phẩm lần đầu được biểu diễn. Báo Việt Nam News kể thêm, trong đó có những bài tên Khai từ và Giao mùa.

Mình đọc những cái tên ấy mà thấy hay. Bình minh. Mắt tằm. Châu thổ. Giao mùa. Từ một đêm gió về trên phố, tới một buổi sáng trên đồng bằng. Từ phố Bát Đàn, tới cả một vùng châu thổ. Người làm nhạc ấy cứ đi, mà vẫn mang theo cái phố của mình.

Có những nhạc sĩ được nhớ vì họ viết rất nhiều bài hát riêng. Trọng Đài thì khác. Ông thường đứng bên cạnh một câu chuyện của người khác, một vở kịch, một bài thơ, một bộ phim, rồi viết cho câu chuyện ấy một giọng hát. Và lạ thay, nhiều khi chính giọng hát ấy lại là thứ người ta nhớ lâu nhất.

Lần tới, nếu trời Hà Nội trở gió, hoặc nếu bạn chợt nhớ một người chị, một người em ở xa, thử mở lại Hà Nội đêm trở gió hay Chị tôi. Nghe chậm thôi. Bạn sẽ thấy trong đó có một con phố nhỏ, có một bài thơ viết cho ngày sinh, và có một người nhạc sĩ phố cổ đã lặng lẽ ngồi xuống bên những câu chuyện ấy.

Tình Ca. Ở đây có bình an.