Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 72

Nguyễn Cường – Gã cao bồi phố cổ lên đại ngàn

Cô gái trên đường lên rẫy

Mình kể bạn nghe về một buổi chiều ở cao nguyên. Một người đàn ông từ Hà Nội lên, vừa đi núi về. Hai bên đường là rừng cao su, rồi tới những đồi cà phê. Phía trước có một cô gái Ê Đê đang đi.

Ông hỏi cô bằng tiếng Ê Đê. Đi đâu đó em. Cô gái trả lời, đi rẫy. Chỉ vậy thôi. Một câu hỏi, một câu đáp, rồi mỗi người một ngả.

Cô gái ấy tên là H'Zen. Theo báo VnExpress kể lại, cô làm ở một nông trường cao su ở Đắk Lắk. Còn người đàn ông kia, sau buổi chiều ấy, viết ra một bài hát tên là H'Zen lên rẫy. Ông kể với báo rằng bài được viết vào năm một nghìn chín trăm tám mươi mốt.

Mấy chục năm sau, khi có người hỏi lại chuyện cô gái, ông nói rất rõ. Đó là một sự rung động nghệ sĩ, chứ không phải rung động nam nữ. Ông cũng nói sau lần ấy, ông không còn liên lạc gì với H'Zen nữa. Về sau cô lập gia đình với một diễn viên múa của đoàn văn công tỉnh, và ở lại với buôn làng của mình.

Người nhạc sĩ đó là Nguyễn Cường.

Điều lạ là người viết nên bao nhiêu bài hát về Tây Nguyên lại không sinh ra ở Tây Nguyên. Ông sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, ở phố Hàng Bạc, giữa khu phố cổ Hà Nội. Nhà ông thuộc hàng trung lưu của phố. Bạn bè trong nghề gọi vui ông là gã cao bồi phố Hàng Bạc.

Ông thương Hà Nội lắm. Ông từng nói với báo VnExpress rằng Hà Nội là tình yêu ông không có quyền lựa chọn, nó như máu thịt của ông. Một người Hà Nội như vậy, mà nửa đời lại gửi cho núi rừng.

Mười sáu tuổi, ông vào học ở trường âm nhạc của Hà Nội, mà bây giờ là Học viện Âm nhạc ở Hà Nội. Ông học đàn cello, cây đàn dây lớn, kéo bằng vĩ, đặt đứng giữa hai đầu gối. Tiếng cello trầm và ấm, gần với giọng người nói chuyện.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, ông ra trường. Ông được phân về Đoàn ca múa Tây Nguyên, mà bây giờ là Đoàn Đam San. Thời đó đoàn đóng ở Hà Nội. Cho nên trước khi đặt chân lên cao nguyên, ông đã ngồi chơi đàn bên những người con của cao nguyên, nghe họ hát, nhìn họ múa.

Rồi ông học thêm sáng tác. Theo báo Vietnamnet, khoảng tháng năm năm một nghìn chín trăm tám mươi, ông cùng nhạc sĩ Trần Tiến và mấy người bạn được mời lên sáng tác cho Đoàn ca múa Đắk Lắk. Có một bài phỏng vấn khác lại ghi ông lên lần đầu vào tháng năm năm sau đó, và ở lại tám tháng. Mình chỉ biết chắc, đó là những năm đầu của thập niên tám mươi.

Lên đó, ông không viết ngay. Ông kể với báo Văn Hóa rằng khi lên Tây Nguyên, ông phải học dân ca Ê Đê từ đầu, để nó thấm dần vào mình. Một người học nhạc bài bản ở Hà Nội, lại ngồi xuống học từng câu hát của buôn làng như một cậu học trò.

Và H'Zen lên rẫy là một trong những bài đầu tiên của những tháng ngày ấy.

Bạn thử nghe lại bài hát mà để ý cái nhịp. Nó không chậm rãi như nhạc phố. Nó đi từng bước, đều đều, có chút nảy lên, như bước chân người con gái đeo gùi lên dốc. Giai điệu có những chỗ vút cao rồi buông xuống, gần với cách người Ê Đê gọi nhau qua đồi.

Mà bài hát cũng chẳng kể gì nhiều. Chỉ là một người con gái đi rẫy, một buổi sáng hay một buổi chiều nào đó. Nhưng nghe xong, người ta thấy được cả một vùng đất. Có nắng, có gió, có con đường đất đỏ. Ông về sau cho biết bài hát này nằm trong số những tác phẩm của ông được nhận giải thưởng lớn.

Một câu hỏi bên đường, thành một bài hát theo người ta mấy chục năm. Nhưng bài hát của núi rừng muốn đi xa, còn cần những giọng hát của núi rừng.

Những giọng hát của đại ngàn

Người đầu tiên phải nhắc là Y Moan. Ông là người Ê Đê, sinh ra trong một gia đình nghèo ở Buôn Ma Thuột. Hồi nhỏ ông mê hát ay rây, một lối hát kể chuyện của người Ê Đê. Mười chín tuổi, ông vào đoàn nghệ thuật của tỉnh Đắk Lắk.

Y Moan hát rất nhiều bài của Nguyễn Cường. Có người bạn thân của Y Moan kể với báo Vietnamnet rằng Y Moan vẫn gọi ông là thầy, người đã giúp mình trên con đường âm nhạc. Nhạc sĩ An Hiếu cũng kể, Y Moan thường hát những bài của Nguyễn Cường.

Trong số đó có Ơi M'Drak. M'Drak là tên một vùng đất ở Đắk Lắk, có những đồng cỏ rộng. Báo Văn Hóa ghi rằng Nguyễn Cường lấy chất liệu dân ca Ê Đê để viết những bài như H'Zen lên rẫy, Ơi M'Drak.

Bạn nghe Y Moan hát Ơi M'Drak thì sẽ hiểu vì sao người ta gọi đó là giọng ca đại ngàn. Tiếng hát mở ra rất rộng, như đứng trên một ngọn đồi gọi về phía bên kia. Câu nhạc dài, hơi thở dài, mà không gắng sức. Cái hay của bài là nó để cho giọng người được thả ra, chứ không bó lại trong khuôn.

Có một chuyện mình rất thích. Năm hai nghìn không trăm mười sáu, Nguyễn Cường cùng nhạc sĩ Giáng Son được mời chọn bài cho một album về Tây Nguyên. Hai người chọn mười hai bài trong gần một trăm bài. Theo báo Việt Nam News, ông quyết định không đưa Ơi M'Drak vào. Lý do của ông là không ai thể hiện được tinh thần bài hát hơn Y Moan.

Một nhạc sĩ tự bỏ bài hát của chính mình ra khỏi album, chỉ vì người hát nó hay nhất đã không còn. Mình nghĩ đó là cách ông thương một người bạn.

Y Moan mất vào ngày một tháng mười năm hai nghìn không trăm mười, khi mới năm mươi bốn tuổi. Nguyễn Cường từng nói với báo Việt Nam News, đại ý rằng một trăm năm nữa cũng chưa chắc có ai hát được như Y Moan.

Rồi tới một bài hát có số phận rất lạ. Báo Vietnamnet kể rằng khi ông viết xong bài này, một người bạn thân chê. Ông buồn, ném bản nhạc vào một góc nhà. Một hôm Y Moan tới chơi, nhặt lên, rồi cất tiếng hát. Sau đó ca sĩ Siu Black cũng nằng nặc đòi hát bằng được.

Bài hát ấy là Em muốn sống bên anh trọn đời. Khi Y Moan hát, người ta quen gọi là Anh muốn sống bên em trọn đời. Ông nói về nó, đại ý rằng bài hát đã tự tìm cho mình một đời sống riêng, rất mãnh liệt. Một bản nhạc bị bỏ xó, mà rồi lại thành bài được hát nhiều nhất.

Còn Siu Black là người Ba Na. Theo một bài phỏng vấn của chính cô, cô mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được bà ngoại nuôi lớn. Những năm đầu đi hát, cô chủ yếu hát bằng tiếng Ba Na, tiếng Ê Đê, gần như chưa hát được tiếng Kinh.

Cô kể, Nguyễn Cường khuyên cô phải tập nói tiếng Kinh cho thật chuẩn, nếu muốn người nghe cả nước thương mình. Lời khuyên ấy nghe thì đơn giản. Nhưng với một cô gái lớn lên giữa buôn làng, đó là cả một con dốc phải leo.

Năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, Siu Black hát trong một chương trình lớn ở Hà Nội. Sau đêm ấy, tên cô được nhắc tới khắp nơi. Và những bài hát gắn với cô nhất, phần nhiều là của Nguyễn Cường.

Nghe Em muốn sống bên anh trọn đời qua giọng Siu Black, bạn sẽ thấy nó không yếu đuối chút nào. Đó là tiếng nói của một người con gái núi rừng, thương thì nói thương, mạnh mẽ và thẳng thắn. Giai điệu không cầu kỳ, mà chắc như bước chân trên đất đỏ.

Báo Sài Gòn Giải Phóng có ghi lại một câu ông nói về hai giọng hát này. Đại ý rằng họ không chỉ hát, mà rút gan rút ruột với những bài hát của ông. Một người viết, hai người hát, và cả một vùng đất đứng phía sau.

Nhưng Tây Nguyên không chỉ có tiếng hát. Tây Nguyên còn có một thứ mà ai lên đó cũng phải dừng lại. Đó là ly cà phê.

Ly cà phê và đôi mắt phố núi

Nhiều người nghĩ bài Ly cà phê Ban Mê được viết theo đơn đặt hàng của một hãng cà phê. Chính ông đã nói với báo Giáo dục Việt Nam rằng không phải vậy. Chuyện bắt đầu từ một lời gợi ý, và một người đã không kịp nghe bài hát.

Khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi ba, ông Quốc Cường, trưởng đoàn nghệ thuật của Đắk Lắk lúc ấy, gợi ý ông nên viết về cà phê. Theo lời nhạc sĩ kể, ông trưởng đoàn nói rằng cà phê Ban Mê Thuột hay lắm, không ở đâu có được.

Ông nghe, ông nhớ, nhưng chưa viết được. Mấy năm trôi qua. Đến khi bài hát ra đời, thì người gợi ý đã mất.

Năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, ông ngồi uống cà phê trong một quán nhỏ ở Đắk Lắk. Và lời ca tự nhiên tuôn ra. Ông kể với báo, duyên phận đến rất nhanh. Sáu năm chờ, rồi một buổi ngồi quán là đủ.

Mình hay nghĩ về chuyện này mỗi khi pha một ly cà phê. Có những điều mình ấp ủ rất lâu mà không thành. Rồi một hôm, chẳng cần cố gắng gì, nó tự tới. Chỉ tiếc là có khi, người đã nói với mình điều ấy không còn ngồi đó để nghe.

Ly cà phê Ban Mê nghe rất vui. Nhịp nhún nhảy, giai điệu có chút đùa nghịch, như lời mời gọi của một cô gái cao nguyên. Bài hát không tả cà phê đậm hay nhạt. Nó tả cái tình của người ở đó, mời khách một ly rồi giữ khách lại. Siu Black hát bài này, và giọng hát của cô làm nó thành của cả Tây Nguyên.

Rồi tới Đôi mắt Pleiku. Ở Pleiku có Biển Hồ, một hồ nước rất trong, màu xanh ngọc, mà người ta gọi là đôi mắt của phố núi. Theo báo Vietnamnet, bài hát ghi năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, và cũng nằm trong số những tác phẩm được nhận giải thưởng lớn của ông.

Có một bài báo của Báo Thế giới và Việt Nam kể chuyện mấy người bạn đi xe khách từ Hà Nội vào Biển Hồ. Suốt đường đi, trong đầu họ cứ vang lên Đôi mắt Pleiku. Một bài hát làm người ta muốn đi tới một nơi, mình nghĩ đó là bài hát đã sống được với đời.

Nghe Đôi mắt Pleiku, bạn để ý cái sương. Giai điệu mềm hơn, có chút gì lãng đãng như sương phố núi buổi sớm. Không còn bước chân lên dốc của H'Zen, không còn tiếng mời gọi của ly cà phê. Đây là tiếng của người đứng nhìn mặt hồ, nhớ một đôi mắt.

Ông còn viết Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột. Cái tên đã nói hết. Thương nhau thì về đây, về với đất đỏ, với nắng gió, với những con người ông quý. Bài hát như một lời hẹn, mà ai đã từng đi qua Buôn Ma Thuột nghe cũng thấy nhớ.

Viết nhiều tới mức có bài chính ông cũng quên. Năm hai nghìn không trăm mười sáu, khi chọn bài cho album, người ta đưa vào một bài của ông tên Nghiêng nghiêng rừng chiều. Theo báo Việt Nam News, ông còn chẳng nghĩ tới bài này, vì ông đã viết quá nhiều bài về Tây Nguyên.

Nhưng người con của phố Hàng Bạc, rồi cũng có lúc quay về với đồng bằng của mình.

Về lại đồng bằng, rồi lại lên cao nguyên

Ít ai để ý, người viết nhạc Tây Nguyên ấy cũng viết những bài rất đồng bằng. Có Hò biển, có Mái đình làng biển, có Một nét ca trù ngày xuân.

Chuyện Mái đình làng biển rất dễ thương. Ông kể với báo VnExpress rằng lần ấy ông được mời đi thực tế ở Quảng Ninh. Ông đã mặc sẵn đồ bơi, định đi tắm biển Trà Cổ. Giữa đường, người ta mời ông ghé thăm một ngôi đình. Và bài hát ra đời từ đó. Ông nói vui, đó không phải bài ông viết, mà là thần đình cho ông.

Còn Một nét ca trù ngày xuân, theo báo Văn Hóa, ông viết năm một nghìn chín trăm tám mươi tư. Ông viết tặng người yêu, người sau này thành vợ ông. Lúc ấy đời ông đã qua nhiều chìm nổi.

Ca trù là lối hát rất xưa của người Việt, có tiếng phách gõ, có cây đàn đáy dài cần. Ông nói ông không định viết theo màu ca trù. Nhưng viết tới một đoạn, ông bỗng nhận ra ca trù đang chảy vào bài hát. Ông giải thích, với dân ca Ê Đê ông phải học từ đầu, còn ca trù thì đã ngấm vào ông từ lúc nào không hay.

Ông kể thêm một câu mình rất thích. Đại ý rằng, khi mình đang là người Việt, nói sõi tiếng Việt, thì mình đang hát đấy mà không biết.

Bài hát ấy ông gọi là bài duy nhất trong đời ông viết về Tết. Ông nói với báo Văn Hóa rằng ba mươi lăm năm nay, Tết nào ông cũng thấy người ta mở nó ra nghe, như thế là đủ vui rồi. Âm nhạc là vậy, ông nói, được gợi từ một người mà viết ra cho nhiều người.

Về sau ông làm một album cùng ca sĩ Tùng Dương, mười bài mang hồn đồng bằng sông Hồng. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, album làm mất chừng ba năm. Ông nói có bài ông viết trong năm mười phút, có bài phải mất chừng mười năm. Ông cũng nói album là món quà tặng người nghe, không phải để kiếm tiền.

Nhưng cao nguyên chưa bao giờ rời ông. Có một giấc mơ ông ôm hơn ba mươi năm. Đó là đưa sử thi Đam San, câu chuyện của người Ê Đê, lên sân khấu ca kịch.

Báo Văn Hóa kể, dự án hai lần suýt dừng vì kịch bản chưa thành, trong đó có một lần ông làm cùng nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Phải tới năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, giữa mùa dịch bệnh, ông mới hoàn thành vở Khát vọng Đam San. Ông vừa viết nhạc, vừa làm tổng đạo diễn, cùng biên kịch Hồng Hoa thêm vào sử thi nhiều tình tiết mới.

Đầu tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, ông về Buôn Ma Thuột làm một đêm nhạc tên Đến với cao nguyên, ngay tại bảo tàng của tỉnh. Lúc ấy ông bảy mươi tám tuổi. Ông nói với báo Việt Nam News rằng các nghệ sĩ của ông sẽ hát và múa bằng cả trái tim. Đêm ấy có Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột, có Đôi mắt Pleiku, có Ly cà phê Ban Mê.

Ở tuổi ngoài tám mươi, theo báo Vietnamnet, mỗi sáng ông vẫn tập thể dục chừng năm mươi phút, đi bộ ít nhất năm cây số, bơi ít nhất năm trăm mét.

Và mùa xuân năm nay, năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, ở Thành phố Hồ Chí Minh có một lễ hội tôn vinh cà phê và trà Việt. Trong lễ hội ấy, chương trình Mai Vàng tri ân của báo Người Lao Động vinh danh ông. Người ta lại hát Ly cà phê Ban Mê, lại hát Đôi mắt Pleiku.

Đứng trên sân khấu, ông xúc động gửi lời tri ân tới những người trong nghề, những người đã ủng hộ và thương ông cho tới giờ phút ấy. Một bài hát viết trong quán cà phê nhỏ ở Đắk Lắk, hơn ba mươi năm sau lại đưa ông về giữa một lễ hội cà phê.

Mình nghĩ cái còn lại cho chúng ta là thế này. Ông là người phố cổ, mà chịu ngồi xuống học từng câu hát của buôn làng như một cậu học trò. Ông không mang Hà Nội lên cao nguyên. Ông để cao nguyên dạy mình.

Nếu tối nay bạn pha một ly cà phê, thử bật lại H'Zen lên rẫy hay Ly cà phê Ban Mê. Đừng nghe như nghe một bài hát vui. Hãy nghe cái bước chân lên dốc trong đó, nghe tiếng người gọi nhau qua đồi. Đó là một người Hà Nội đã chịu khó lắng nghe núi rừng, suốt cả đời mình.

Tình Ca. Ở đây có bình an.