Những người viết nên Tình Ca · Tập 71
Trần Quang Lộc – Mùa thu của thành phố chưa đến
Bài hát Hà Nội của người chưa từng đến
Mình kể bạn nghe về một bài hát mùa thu Hà Nội. Bài hát ấy được người Hà Nội hát suốt mấy chục năm. Ca sĩ Hà Nội đem nó lên sân khấu ở chính thủ đô, vào những đêm nhạc mùa thu. Người nghe tưởng tác giả phải là một người lớn lên bên hồ Gươm, quen từng hàng sấu, từng góc phố.
Vậy mà người viết ra giai điệu ấy, cả đời chưa một lần đặt chân tới Hà Nội. Người bạn viết bài thơ để ông phổ nhạc cũng vậy, cũng chưa từng tới. Hai chàng trai ngồi ở Đà Nẵng, nhìn ra biển miền Trung, mà viết về mùa thu của một thành phố chỉ có trong sách vở và trong tưởng tượng.
Báo Viet Nam News, một tờ báo tiếng Anh trong nước, có viết rằng người Hà Nội nghe bài ấy mà không nhận ra người viết chưa từng sống ở đó. Ông chỉ dựa vào trí tưởng tượng, vào những trang sách, những bài thơ ông đã đọc.
Bài hát đó là Có phải em mùa thu Hà Nội. Và người nhạc sĩ ấy là Trần Quang Lộc.
Phần lớn báo chí trong nước ghi ông sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín, ở Quảng Trị. Có trang ghi rõ hơn là vùng Gio Linh. Cũng có vài nguồn ghi ông sinh sớm hơn mấy năm. Nhưng khi ông mất, gia đình và báo chí đều nói ông thọ bảy mươi mốt tuổi, nên mình theo năm bốn mươi chín.
Có một chi tiết nhỏ mà ông từng kể với báo Tiền Phong. Hồi nhỏ, ông không được tiêm ngừa bại liệt. Bệnh để lại cho ông cái chân trái đi khập khiễng suốt đời. Một cậu bé đi đứng không được nhanh nhẹn như bạn bè, có lẽ vì vậy mà sớm biết ngồi yên một chỗ, nghe nhiều hơn chạy nhảy.
Lớn lên ở Đà Nẵng, ông có một nhóm bạn mê hát. Ông kể, mấy anh em hay ra bãi biển Mỹ Khê, ôm đàn ngồi trên cát, vừa hát vừa sáng tác. Những bài viết hồi ấy, ông không giữ lại bản nào. Viết xong, hát xong, gió biển mang đi. Mình nghe chuyện đó mà thấy tiếc, nhưng cũng thấy đẹp. Có những bài hát sinh ra chỉ để cho một buổi chiều.
Khoảng hai mươi tuổi, ông vào học ở Trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Đó là lần đầu cậu học trò ham hát ngoài bãi biển được học nhạc cho bài bản. Rồi ông vào Sài Gòn, học tiếp hòa âm và sáng tác. Ông kể với báo, năm ấy ông thi đậu nhiều trường, nhưng cuối cùng vẫn chọn âm nhạc.
Một người con của đất Quảng Trị, lớn lên bên biển Đà Nẵng, học nhạc ở Huế. Ba vùng đất miền Trung ấy, về sau đều để lại dấu vết trong những bài hát của ông. Nhưng cái tên Trần Quang Lộc bắt đầu được người ta biết tới, lại là từ những đêm ở Sài Gòn.
Người đệm đàn ở góc phòng trà
Những năm cuối thập niên sáu mươi, Trần Quang Lộc là một cậu sinh viên nghèo ở Sài Gòn. Ban ngày đi học. Tối nào cũng đi đệm đàn ở phòng trà, ở các quán nhạc để kiếm sống. Trong một cuộc phỏng vấn trên sóng phát thanh năm hai nghìn không trăm mười, ông kể rằng hồi đó ông vừa học buổi tối, vừa chơi đàn ở các quán nhạc.
Bạn thử hình dung một căn phòng nhỏ, đèn vàng, khói thuốc, tiếng ly tách. Người đệm đàn ngồi ở một góc, ít ai để ý tới. Nhưng người ngồi ở góc ấy lại thấy hết. Ông thấy những cô gái trẻ, từ nhiều miền quê tới, đêm đêm làm việc trong những quán ấy. Ông thấy cái mệt sau nụ cười, cái nhớ nhà sau lớp phấn son.
Ông kể với báo Tiền Phong, chính cảm giác day dứt khi nhìn những người con gái ấy đã làm nên bài Về đây nghe em. Đó là một lời gọi. Gọi người ta trở về với quê nhà, với những gì bình yên và trong trẻo. Báo Tiền Phong ghi bài được viết năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám. Trong cuộc phỏng vấn trên sóng phát thanh, ông lại nhớ là khoảng một hai năm sau đó. Thôi thì mình cứ nói là những năm cuối thập niên sáu mươi.
Có một điều mình muốn nói rõ. Có vài trang ghi bài Về đây nghe em được phổ từ thơ của A Khuê. Nhưng chính nhạc sĩ, khi kể với các báo, chỉ nói về cảm xúc của mình ở những đêm đệm đàn. Mình chưa tìm được nguồn đủ chắc, nên chỉ nói để bạn biết vậy thôi.
Người hát Về đây nghe em đầu tiên là ca sĩ Elvis Phương, vào dịp Tết năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín. Bài hát nhanh chóng được nhiều người yêu thích. Ông giải thích với báo rằng bài thành công vì nhịp slow rock rất chắc, và vì nó nói về quê hương, khác với những bài than thở chuyện tình buồn đang rất nhiều lúc ấy.
Slow rock là một điệu nhạc chậm, nhịp ba nhỏ chia trong mỗi phách, nghe như con sóng lăn tăn liên tục bên dưới. Bạn nghe lại Về đây nghe em, để ý phần đệm sẽ thấy cái chuyển động đó. Giai điệu thì đi rất thong thả, chữ nào ra chữ nấy, như một người đang nói chuyện với ai đó ngồi đối diện. Không gào lên, không van nài. Chỉ nhỏ nhẹ, mà tha thiết.
Mấy chục năm sau, bài hát vẫn được các thí sinh chọn hát trong các cuộc thi trên truyền hình. Ca sĩ Thu Phương về sau cũng hát bài này rất thành công. Một lời gọi viết ra từ góc tối của một phòng trà, đi được xa như vậy.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi, tập nhạc đầu tiên của ông được in, tên là Hát trong dòng sông xưa. Cái tên nghe đã thấy chất miền Trung, thấy dòng sông, thấy những gì đã qua mà còn đọng lại. Những năm ấy, ông viết nhiều, và đi về giữa Sài Gòn với Đà Nẵng.
Rồi một ngày ở Đà Nẵng, người bạn thân của ông đưa cho ông một bài thơ dài. Bài thơ về một thành phố mà cả hai chưa từng đến.
Một đêm, một bài thơ, và hai mươi năm chờ
Người bạn ấy là nhà thơ Tô Như Châu, ở trong một nhóm thơ của Đà Nẵng tên là Hàn Giang. Một tờ báo điện tử kể rằng ông nhận bài thơ dài của bạn, rồi viết nhạc chỉ trong một đêm. Ông cũng kể với báo Tiền Phong như vậy, một đêm là xong.
Về năm viết, các nguồn ghi khác nhau. Báo Tiền Phong và một tờ báo điện tử ghi năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt. Đài Tiếng nói Việt Nam và một số báo khác ghi năm bảy mươi hai. Mình chỉ nói là khoảng đầu thập niên bảy mươi.
Bạn thử nghĩ coi. Một người chưa từng thấy lá vàng rơi trên phố Hà Nội. Chưa từng đi qua một con đường có hàng cây cổ thụ vào tháng chín, tháng mười. Chưa từng ngửi mùi hoa sữa. Vậy mà ông ngồi một đêm, cầm bài thơ của bạn, và viết ra một giai điệu khiến chính người Hà Nội cũng tin là của mình.
Mình nghĩ, có lẽ chính vì chưa từng đến mà bài hát mới mơ màng như vậy. Hà Nội trong bài là một Hà Nội của giấc mơ. Mùa thu trong bài là mùa thu của người đứng rất xa mà nhìn về. Câu hát cứ hỏi đi hỏi lại, không bao giờ khẳng định. Cái tên bài hát cũng là một câu hỏi. Người viết không dám chắc điều gì, chỉ dám hỏi khẽ thôi.
Ông muốn danh ca Thái Thanh hát bài này. Và bà đã hát. Nhưng rồi bài hát chìm đi rất lâu, hơn hai mươi năm, gần như không ai nhắc tới.
Đến năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, ca sĩ Hồng Nhung làm một album tên Chợt nghe em hát. Album gồm những tình khúc của Trần Quang Lộc và nhạc sĩ Lã Văn Cường. Theo báo chí kể lại, nhạc sĩ Đức Trí, một trong những người lo phần sản xuất, đề nghị đưa thêm Có phải em mùa thu Hà Nội vào.
Có một chuyện rất vui ở phòng thu. Tới lúc thu thì cả nhóm mới phát hiện bài này chưa có bản phối. Đức Trí ngồi viết luôn tại chỗ, chừng năm tới mười phút. Ông kể với báo, đó có lẽ là bản phối làm nhanh nhất trong đời ông. Một bài viết trong một đêm, được phối trong mười phút. Vậy mà người ta nghe tới tận bây giờ.
Trần Quang Lộc kể với báo Tiền Phong, album ấy bán được ba mươi nghìn bản ngay tuần đầu. Rồi ca sĩ Thu Phương hát lại, và theo một cuộc phỏng vấn trên sóng phát thanh, bản của cô đứng đầu một bảng xếp hạng ở Sài Gòn suốt một năm. Bài hát còn được Hội Văn học Nghệ thuật trao giải ca khúc hay nhất trong năm.
Nếu bạn nghe lại bài này, mình gợi ý bạn nghe bản của Hồng Nhung trước, rồi nghe bản của Thu Phương. Hồng Nhung hát nhẹ, trong, như sương sớm. Thu Phương hát đầy hơn, ấm hơn, như người đã đi xa và đang nhớ. Cùng một giai điệu chậm, nhiều chữ được ngân dài ở cuối câu, để lửng như một tiếng thở. Bài không có cao trào ồn ào. Nó cứ dâng lên từ từ, rồi lắng xuống.
Bên cạnh bài ấy, Hồng Nhung và Thu Phương còn hát nhiều bài khác của ông. Chợt nghe em hát. Em còn nhớ Huế không. Ngủ ngoan nhé ngày xưa. Áo hoa. Tình cờ gặp nhau. Nghe tên thôi đã thấy ông là người viết về những điều nhỏ và dịu: một tà áo, một lời ru, một lần gặp tình cờ. Cả đời, ông viết khoảng sáu trăm bài, khoảng ba trăm rưỡi bài đã được thu âm.
Còn chuyện Hà Nội. Theo báo Tiền Phong, đã có hai lần ông được mời ra thủ đô. Một lần để nhận giải cho bài hát, thì ông bệnh. Một lần dự một dịp lễ lớn của thủ đô, thì nhà có việc. Ông nói đùa với báo, chắc là ông vô duyên với Hà Nội. Người viết ra một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội, rốt cuộc chỉ gặp Hà Nội trong bài hát của mình.
Còn ông, những năm sau đó, sống ở một thị xã nhỏ gần biển phía Nam, với một người phụ nữ Huế.
Người thầy dạy nhạc ở Bà Rịa
Bà tên Nguyễn Thị Thuận, người Huế. Ông kể với báo Tiền Phong rằng hai người gặp nhau ở Đà Nẵng. Lúc đó bà đã thôi học ở trường nhạc Huế, vì cha mẹ không cho theo nghề hát. Về sau bà vào Sài Gòn học Văn khoa, và hai người gặp lại nhau.
Gia đình bà không ưng chuyện này. Hai người chờ. Chờ lâu lắm. Tới năm cả hai cùng ba mươi hai tuổi mới cưới. Họ có bốn người con. Mình nghĩ, một người viết nhiều tình ca như vậy, chắc cũng hiểu chữ chờ hơn ai hết.
Về sau, ông bà về sống ở Bà Rịa, và ở đó cho tới cuối đời. Ông mở lớp dạy nhạc. Ông kể với báo, có lớp tới hai ba chục học trò. Nhiều thầy cô dạy nhạc ở vùng ấy bây giờ từng ngồi trong lớp của ông. Khi ông bệnh, học trò cũ vẫn tới thăm, phụ giúp.
Báo Tiền Phong có viết, từ khi về Bà Rịa, ông sống khá ẩn dật. Ít gặp bạn bè, ít đi xa. Chỉ chơi với vài người bạn quanh nhà, thỉnh thoảng sinh hoạt với hội văn nghệ của tỉnh. Ông là người theo đạo Công giáo, và ngoài tình ca, ông còn viết cả thánh ca, những bài hát dâng lời nguyện cầu.
Tiền tác quyền thì không nhiều. Báo Viet Nam News kể, ông bà sống nhờ một khoản tác quyền khá khiêm tốn từ những bài hát của mình. Trong khi đó, chính những bài hát ấy đã giúp nhiều ca sĩ nổi tiếng.
Rồi bệnh tới. Đầu tiên là ung thư bàng quang. Ông phải mổ, rồi bệnh lan lên phổi, lên não, làm ông mất thị lực một bên mắt. Các nguồn nói ông chống chọi với bệnh khoảng năm tới sáu năm. Bà Thuận là người ở bên chăm ông suốt quãng ấy.
Có những người không quên ông. Năm hai nghìn không trăm mười bảy, báo Viet Nam News kể ca sĩ Thu Phương, người hát thành công nhiều bài của ông, đã gửi về một trăm triệu đồng giúp ông chữa bệnh. Ông nói với báo rằng ông xúc động lắm, cảm giác như đang nằm mơ. Cuối tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi, theo Đài Tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Quang tổ chức một đêm nhạc để quyên góp giúp ông.
Cũng trong tháng ấy, báo Tiền Phong tới thăm ông ở nhà. Lúc đó ông chỉ còn ăn được cháo, uống sữa, giọng nói rất yếu. Nhưng ông vẫn nói về một mơ ước. Ông mong có một đêm nhạc lớn ở Hà Nội. Ông mong một lần được nghe Hồng Nhung và Thu Phương cùng hát nhạc mình trên một sân khấu. Về bệnh, ông chỉ nói gọn, đành chấp nhận.
Chiều ngày bảy tháng sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi, ông mất tại nhà ở Bà Rịa, thọ bảy mươi mốt tuổi. Bà Thuận báo tin cho báo chí. Tang lễ làm theo nghi thức Công giáo ngay tại nhà. Những người con ở xa không kịp về tiễn cha.
Ông chưa bao giờ tới Hà Nội. Nhưng mỗi năm, khi trời Hà Nội chớm lạnh, khi hàng cây bắt đầu đổi màu, thế nào cũng có người hát bài hát của ông. Có thể ở một quán nhỏ, có thể trong một đêm nhạc lớn. Theo một cách nào đó, ông đã tới. Tới bằng giai điệu, chứ không phải bằng đôi chân khập khiễng của mình.
Câu chuyện của Trần Quang Lộc làm mình nghĩ, mình không cần phải đi hết mọi nơi mới yêu được một nơi. Không cần sống cả đời ở đâu đó mới hiểu được nó. Đôi khi chỉ cần một bài thơ của bạn, một đêm ngồi yên, và một tấm lòng biết nhớ.
Tối nay, nếu bạn nghe lại Có phải em mùa thu Hà Nội, hay Về đây nghe em, mình nhờ bạn nghĩ tới một người thầy dạy nhạc ở Bà Rịa. Chân đi khập khiễng, sống lặng lẽ bên người vợ Huế, cả đời mơ một lần ra Hà Nội. Ông không ra được. Nhưng bài hát của ông thì ở đó, mỗi mùa thu.
Tình Ca. Ở đây có bình an.