Những người viết nên Tình Ca · Tập 68
Vũ Đức Sao Biển – Đồi sim tháng chín và hai chuyến đò
Một mình giữa đồi sim
Tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám. Ở Quảng Nam, có một chàng trai hai mươi tuổi đứng một mình giữa một đồi sim. Mùa thu. Hoa sim tím. Chàng mới từ Sài Gòn về quê, đi tìm một người, mà không gặp.
Gần bốn mươi năm sau, chàng trai ấy kể lại với báo Tiền Phong, đại ý rằng ông đứng giữa hoa sim, giữa mùa thu Quảng Nam, một mình, âm thầm và lặng lẽ. Từ chỗ đứng đó, ông viết bài hát đầu tay. Bài hát tên là Thu hát cho người.
Chàng trai ấy tên thật là Võ Hợi. Người ta biết ông bằng một cái tên dài và lạ: Vũ Đức Sao Biển. Một cái tên nghe như có trời, có biển, có ngôi sao trong đó.
Theo báo Tiền Phong, ông sinh ngày mười hai tháng hai năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám, ở thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Quê gốc của ông ở làng Duy Vinh, huyện Duy Xuyên. Tuổi thơ ông gắn với vùng đất Duy Xuyên, nơi có con sông Thu Bồn chảy qua, có bến đò, có bãi bồi.
Mình kể chuyện ông, thật ra là kể ba câu chuyện cùng lúc. Chuyện một người viết nhạc. Chuyện một ông thầy giáo. Và chuyện một nhà báo viết hàng nghìn bài, ký đủ thứ bút danh. Ba con người đó sống chung trong một người, hiền hậu, cặm cụi, thương người nghèo.
Nhưng câu chuyện nào của ông cũng phải bắt đầu từ cái đồi sim tháng chín đó. Và trước cái đồi sim đó, là những con đường đi học ở Quảng Nam, với hai chuyến đò.
Hai chuyến đò đến trường
Hồi nhỏ, cậu Võ Hợi học trường Trần Quý Cáp ở Hội An. Trong trường có một cô nữ sinh nhỏ hơn cậu hai lớp, cùng làng với cậu. Bài báo của tác giả Đỗ Anh Vũ trên báo Đại Đoàn Kết, dựa vào một lá thư điện tử ông gửi cho bạn, kể lại chuyện này.
Hai người cùng đi bộ tới trường suốt bốn năm. Mỗi lượt chừng năm cây số, phải qua hai chuyến đò. Mình thử hình dung. Sáng sớm, hai đứa học trò đứng chờ đò. Đò cập bến, bước xuống, đi một đoạn, rồi lại chờ chuyến đò thứ hai. Bốn năm như vậy. Chiều về lại y như vậy.
Cô bạn ấy có một cái tên ở nhà. Trong lá thư, ông viết rằng Thu là cái tên hai người gọi nhau, là tên ở nhà. Vậy thì chữ Thu trong bài hát của ông, trước hết là tên một con người, rồi sau đó mới là một mùa.
Năm mười tám tuổi, cậu vào Sài Gòn học. Cậu học hai trường một lúc: Đại học Sư phạm, ban Việt Hán, nghĩa là học văn chương tiếng Việt và chữ Hán, và Đại học Văn khoa, ban Triết học phương Đông. Một cậu trai xứ Quảng, sáng học chữ thánh hiền, chiều đọc sách triết, tối về chắc vẫn nhớ hai chuyến đò.
Năm sáu mươi tám, ông về quê. Ông đi tìm cô bạn cũ, nhưng không tìm được. Báo Đại Đoàn Kết viết rằng chính trong nỗi nhớ đó, ông viết Thu hát cho người. Báo Việt Nam News cũng ghi rằng bài hát ra đời khi ông đang thương nhớ một cô gái tên Thu.
Có một chi tiết rất hay. Trên tên bài hát, đúng ra sau chữ Thu phải có một dấu phẩy. Thu, phẩy, hát cho người. Nghĩa là gọi tên một người. Nhưng nhiều bản in về sau làm rơi mất cái dấu phẩy. Người ta đọc thành mùa thu hát cho người. Một cái tên con gái biến thành một mùa trong năm.
Mình nghĩ, có khi cái dấu phẩy rơi mất đó lại làm bài hát đi xa hơn. Ai cũng có một mùa thu để nhớ. Không phải ai cũng biết cô Thu ở làng Duy Vinh. Nhưng ai nghe cũng thấy mình trong đó.
Nghe Thu hát cho người, mình thấy nó chậm, buồn mà trong. Chữ nghĩa của một người học văn chương, nên câu hát đẹp như câu thơ. Giai điệu không gào lên, không bi lụy. Nó giống một người đứng một mình trên đồi, nói nhỏ với gió. Đúng như cái dáng ông kể lại.
Về sau, bài hát được thu lại với nhiều giọng hát, trong đó có Cẩm Vân. Năm hai nghìn lẻ bảy, ông kể với báo Tiền Phong rằng ông đã sưu tầm được bảy mươi hai giọng hát khác nhau cùng hát bài này. Năm hai nghìn mười tám, một chương trình âm nhạc làm đêm nhạc vinh danh ông, nhân năm mươi năm bài Thu hát cho người.
Ông thầy giáo ở Bạc Liêu
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi, ông tốt nghiệp. Ông nhận về Bạc Liêu dạy học, dạy môn văn và môn triết ở trường công lập của tỉnh. Một chàng trai Quảng Nam, giọng nói còn nặng chất miền Trung, đi về tận cuối miền Tây đứng lớp.
Báo Sài Gòn Giải Phóng kể rằng học trò rất thương ông. Vì ông đàn giỏi, hát hay, tính tình hiền lành, lại hăng hái trong mấy chuyện văn nghệ của trường. Một ông thầy dạy triết mà cầm đàn lên là hát được, mình nghĩ học trò nào mà không mê.
Báo Tiền Phong viết rằng ông xem Bạc Liêu là quê hương thứ hai. Cũng có lý. Bạc Liêu là đất của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người ta quen gọi là ông Sáu Lầu. Chính ở đây ông Sáu Lầu viết bài Dạ cổ hoài lang, nghĩa là đêm nghe tiếng trống, nhớ chồng. Bài đó về sau thành gốc của điệu vọng cổ, cái điệu mà người miền Nam nào cũng nghe từ trong nôi.
Một người con xứ Quảng, sống ở cái nôi của vọng cổ, thì nghe cái gì cũng thấm. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, sau này, khi ông trở lại Bạc Liêu, ông viết một loạt bài về vùng đất ấy và về miền Nam. Điệu buồn phương Nam. Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang. Đau xót lý chim quyên. Trở lại Bạc Liêu. Trên sóng Cửu Long.
Gành Hào là một vùng cửa biển của Bạc Liêu. Hoài lang là nhớ chồng, là cái tên gọi tắt của bài ông Sáu Lầu. Đặt hai chữ đó cạnh nhau, đêm Gành Hào và điệu hoài lang, là ông đã vẽ xong một bức tranh. Gió biển, đêm khuya, và một giọng ca vọng cổ từ đâu vọng lại. Báo Việt Nam News ghi rằng bài hát lấy cảm hứng từ Dạ cổ hoài lang.
Còn chim quyên là con chim quen thuộc trong ca dao Nam Bộ. Người miền Tây hát chim quyên ăn trái nhãn lồng, hát từ đời ông bà. Ông nhặt con chim ấy vào bài hát của mình, như nhặt một câu ru cũ.
Nghe những bài này, mình hay quên mất người viết là người miền Trung. Giai điệu mềm, chậm, có chỗ luyến láy như câu lý, câu hò sông nước. Báo Tiền Phong nhận xét rằng nhiều ca khúc của ông làm người nghe tưởng người viết lớn lên từ sông nước miền Tây. Ca sĩ Hương Lan hát nhiều bài của ông, và theo tờ báo, người xa quê nghe xong thì nhớ nhà da diết.
Báo Sài Gòn Giải Phóng tả nhạc ông bằng mấy chữ rất đúng: ca từ đẹp, gần gũi, đậm chất văn chương, giai điệu mềm mượt, man mác buồn. Cái buồn đó không phải buồn bi lụy. Nó là cái buồn của một người ngồi bên sông, nghe tiếng đàn vọng cổ, rồi nhớ một điều gì rất xa.
Ông Đồ Bì và những trang sách
Rồi ông về Thành phố Hồ Chí Minh. Ông tiếp tục dạy học, có thời gian làm ở Phòng Giáo dục huyện Nhà Bè. Nhưng từ đây, một con người khác của ông bắt đầu lớn lên. Người viết báo.
Ông viết cho rất nhiều tờ báo ở thành phố: Tuổi Trẻ Cười, Thanh Niên, Pháp Luật, Công An, Kiến Thức Ngày Nay. Ở tờ Tuổi Trẻ Cười, ông ký tên Đồ Bì. Ông còn những bút danh khác như Đinh Ba, Mạc Đại. Ông viết đủ thứ: tiểu thuyết, tiểu phẩm châm biếm, bút ký, hồi ký, tản văn.
Có một mảng mà nhiều người mê ông vì nó. Ông rất mê truyện kiếm hiệp của Kim Dung, nhà văn người Hồng Kông viết những bộ truyện võ hiệp nổi tiếng. Ông viết bộ sách Kim Dung giữa đời tôi, bốn tập, bàn về các nhân vật trong truyện Kim Dung mà soi vào đời thường. Ông còn dịch bộ Tiếu ngạo giang hồ, tám tập.
Mình thấy cái mê đó cũng hợp với ông. Một người học triết phương Đông, lại thích đọc chuyện giang hồ nghĩa hiệp. Một người dạy học trò chữ nghĩa, lại hay viết chuyện cười cho người lớn. Trong ông có cái nghiêm của ông thầy, mà cũng có cái tếu của một người xứ Quảng.
Báo Tiền Phong, năm hai nghìn lẻ bảy, có một bài viết về ông. Người viết bài từng làm việc với ông ở các tòa báo, tả ông là người làm việc cẩn thận, tâm huyết, và rất thương những người nghèo khổ, bất hạnh. Cũng bài đó ghi ông đã có hai tập ca khúc, ba đĩa nhạc và hơn một trăm hai mươi bài hát.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, ông làm một việc mà mình nghĩ ông Sáu Lầu dưới suối vàng chắc cũng vui. Ông tham gia phục dựng lại bài Dạ cổ hoài lang. Báo Việt Nam News ghi rằng bài hát được trình diễn lại trên Đài Truyền hình Việt Nam năm đó. Năm hai nghìn mười ba, ông cùng mấy nhà báo đồng nghiệp dịch bài hát ấy sang tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hoa phổ thông.
Một người con của Quảng Nam đi giữ gìn bài hát gốc của vọng cổ miền Nam. Mình thấy điều đó rất đẹp. Quê hương thứ hai, ông thương thật, chứ không phải nói cho vui.
Năm hai nghìn lẻ chín, ông còn về trường đại học, dạy cho sinh viên báo chí hai môn tạp văn và tường thuật văn hóa nghệ thuật. Ông thầy dạy văn ở Bạc Liêu năm nào, giờ dạy cho những người sắp làm nghề viết.
Về lại bến sông Thu Bồn
Càng về sau, ông càng hay về quê. Báo Tiếng nói Việt Nam kể rằng hằng năm ông thường về Quảng Nam. Ông viết những bài hát về quê lụa, về Mỹ Sơn. Có bài Bài thơ quê lụa. Có bài Chào Apsara. Apsara là hình những vũ nữ thiên thần chạm trên đá trong các đền tháp Chăm, mà Mỹ Sơn ở Duy Xuyên là nơi người ta hay nhắc tới.
Ông làm hẳn một đĩa nhạc tên là Giai điệu Duy Xuyên, mười lăm bài. Báo Tiếng nói Việt Nam ghi rằng ông đi đi về về hàng chục chuyến từ thành phố về quê để viết và dựng đĩa nhạc đó. Ông còn hay tổ chức những đêm nhạc từ thiện ở quê nhà.
Mình nghĩ tới cậu học trò đi bộ năm cây số, qua hai chuyến đò. Mấy chục năm sau, cậu lại đi đi về về trên con đường quê ấy. Chỉ khác là giờ cậu mang theo những bài hát, để tặng lại cho chính cái làng đã nuôi mình lớn.
Những năm cuối đời, ông bị ung thư vòm họng. Báo Sài Gòn Giải Phóng kể rằng hơn hai năm, ông không nói chuyện được. Giữa năm hai nghìn mười chín, bệnh lan sang phổi, ông khó thở, nhiều lần phải đi cấp cứu. Vậy mà theo tờ báo, ông vẫn giữ tinh thần lạc quan, đầu óc minh mẫn.
Mình đọc tới đó thì thấy nghẹn. Một người cả đời sống bằng chữ và bằng giọng hát. Viết mấy nghìn bài báo, mấy chục cuốn sách, hơn trăm bài hát. Rồi tới cuối đời, lại không nói được một câu. Nhưng những câu ông đã viết ra thì vẫn còn đó, vẫn có người hát thay ông.
Ông mất lúc hai mươi ba giờ hai mươi lăm phút, ngày sáu tháng năm năm hai nghìn hai mươi, tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Các báo ghi ông hưởng thọ bảy mươi hai hoặc bảy mươi ba tuổi, tùy cách tính. Ông được an táng ở Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương.
Điều còn lại cho mình hôm nay là gì? Mình nghĩ là cái dấu phẩy. Thu, phẩy, hát cho người. Một cái tên rất riêng của một người rất riêng, mà rồi thành ra của tất cả mọi người. Có những nỗi nhớ nhỏ xíu, nếu mình nói nó ra cho thật, thì người khác cũng nghe ra nỗi nhớ của chính họ trong đó.
Lần tới, nếu có nghe lại Thu hát cho người, mình thử nhớ tới một cậu học trò đứng chờ đò buổi sáng. Rồi nhớ tới một chàng trai hai mươi tuổi đứng giữa đồi sim. Rồi nhớ tới một ông thầy già, không nói được nữa, mà bài hát của ông thì vẫn đang được hát ở đâu đó.
Tình Ca. Ở đây có bình an.