Những người viết nên Tình Ca · Tập 65
Huỳnh Anh – Người giữ nhịp phía sau ánh đèn
Cậu bé mười lăm tuổi sau dàn trống
Đà Lạt năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy. Trong một ban nhạc ở thành phố sương mù, người ta thấy một cậu con trai mới mười lăm tuổi ngồi sau dàn trống. Ban nhạc chơi, người ta nhìn ca sĩ, nhìn người đánh đàn. Ít ai để ý tới cậu bé ngồi phía sau, cầm hai cây dùi, giữ nhịp cho cả ban.
Báo Thanh Niên ghi rằng đó là lúc cậu bắt đầu nghề nhạc. Cậu tên là Huỳnh Anh. Hơn mười năm sau, cậu thành một tay trống nổi tiếng của các phòng trà Sài Gòn. Và cậu cũng viết những bài hát mà nhiều thế hệ người nghe vẫn còn thuộc: Mưa Rừng, Kiếp Cầm Ca, Lạnh Trọn Đêm Mưa, Thuở Ấy Có Em.
Ông sinh ngày hai tháng giêng năm một nghìn chín trăm ba mươi hai, ở Cần Thơ. Cha ông là nghệ sĩ Sáu Tửng, một tay đàn kìm nổi tiếng của sân khấu cải lương miền Nam. Đàn kìm còn gọi là đàn nguyệt, có cái thùng tròn như mặt trăng, cần dài, hai dây. Trong dàn đờn cải lương, tiếng đàn kìm là tiếng dẫn, tiếng đỡ cho người ca vọng cổ.
Mình thử hình dung một cậu bé miệt Cần Thơ lớn lên bên tiếng đàn kìm của cha. Tiếng đàn ngọt, chậm, theo sát từng chữ của người ca. Rồi cậu bé ấy lại chọn cây trống, một thứ nhạc cụ của ban nhạc tân thời. Nghe như đi ngược cha. Nhưng nghĩ kỹ, hai cha con cùng làm một việc: đứng phía sau, giữ cho người khác hát cho trọn câu.
Ông chơi được nhiều thứ: đàn guitar, dương cầm, kèn, và bộ gõ. Nhưng cái tên Huỳnh Anh, trong giới chơi nhạc Sài Gòn, trước hết là tên một tay trống. Ông còn ký một bút danh khác là Thủy Tiên, theo trang Hợp Âm Việt.
Những đêm phòng trà Sài Gòn
Cho tới năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, ông chơi nhạc cho các đoàn cải lương, và cho những phòng trà có ban nhạc người Phi Luật Tân. Phi Luật Tân là cách người mình hồi đó gọi nước Phi líp pin. Mình đoán, ngồi chung với những nhạc công ấy đêm này qua đêm khác, cậu thanh niên miền Tây học được không ít về những điệu nhạc Tây như rumba, slow, tango.
Năm năm mươi bảy, ông thành trưởng ban nhạc. Báo Thanh Niên viết rằng từ những năm năm mươi, ông là tay trống lừng lẫy của các phòng trà, vũ trường Sài Gòn. Đêm nào cũng vậy, đèn mờ, sàn gỗ bóng, người ta dìu nhau theo tiếng nhạc. Và người giữ cái nhịp đó là ông.
Mình nghĩ cái nghề tay trống có một nỗi buồn riêng. Người ta nhớ mặt ca sĩ, nhớ tiếng kèn, tiếng đàn. Ít ai nhớ người đánh trống. Mà thiếu người đánh trống thì cả sàn nhảy lạc nhịp liền. Ông làm cái việc quan trọng mà ít ai thấy đó suốt mấy chục năm.
Khoảng cuối những năm năm mươi, ông viết bài đầu tay, tên là Em Gắng Chờ. Có nguồn ghi năm năm mươi sáu, có nguồn ghi cuối thập niên năm mươi. Một tay trống ban đêm chơi nhạc cho người ta nhảy, ban ngày ngồi viết bài hát của mình. Mình nghĩ những bài hát ấy chắc mang theo cái nhịp đã thấm vào tay ông từ năm mười lăm tuổi.
Nghe nhạc Huỳnh Anh, mình thấy nhịp bao giờ cũng rất vững. Giai điệu không cầu kỳ, nhưng đi đều, dễ cho người hát, dễ cho người nghe nhún theo. Có lẽ đó là cái dấu tay của một người cả đời ngồi sau dàn trống: biết bài hát nào thì người ta hát được, bài nào thì người ta bỏ.
Mưa rừng cho một giọng hát
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt, đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga dựng vở Mưa Rừng, kịch bản của Hà Triều và Hoa Phượng. Huỳnh Anh được mời viết một bài hát cho vở diễn. Bài hát cũng tên là Mưa Rừng, viết riêng cho giọng hát của nghệ sĩ Thanh Nga.
Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh dùng một chữ rất bình dân để tả chuyện đó: đo ni đóng giày. Ông viết vừa khít giọng của Thanh Nga, rồi bỏ nhiều thời gian ngồi tập với cô từng câu. Vở diễn ra mắt, bài hát nổi tiếng theo. Năm sau, vở được dựng thành phim, và theo báo Ngôi Sao, chính bộ phim năm sáu mươi hai đã đưa tên tuổi Huỳnh Anh tới đông đảo người nghe.
Mình thấy chỗ này có một vòng tròn đẹp. Người cha ngồi đờn kìm trên sân khấu cải lương cả đời. Người con, một tay trống tân nhạc, lại viết bài hát cho chính sân khấu cải lương. Tân nhạc và cải lương, hai thứ tưởng ở hai bên, gặp nhau trong một bài hát.
Ông còn viết những bài khác cũng gắn với sân khấu và màn ảnh. Báo Thanh Niên nhắc bài Lạnh Trọn Đêm Mưa trong nhóm những bài hát được nhiều người ưa chuộng. Rồi bài Sa Mạc Tuổi Trẻ viết cho phim Điệu Ru Nước Mắt. Ông không viết nhiều, nhưng mỗi khi có người cần một bài hát cho một vai diễn, một bộ phim, người ta lại tìm tới ông.
Kiếp cầm ca
Chín năm sau Mưa Rừng, ông lại làm việc với Thanh Nga. Năm một nghìn chín trăm bảy mươi, cô đóng vai chính trong phim Loan Mắt Nhung của đạo diễn Lê Dân, và ông viết bài hát chủ đề cùng tên cho phim.
Cũng trong những năm ấy, ông viết Kiếp Cầm Ca. Theo lời chính ông được trang Hợp Âm Việt và nhiều bài tưởng niệm ghi lại, bài hát này ông viết để tặng nghệ sĩ Thanh Nga. Báo Công An Thành phố Hồ Chí Minh gọi đó là một mối duyên đặc biệt giữa người viết và người hát. Mình chỉ kể tới đó thôi, vì đó là chuyện của hai người.
Cầm ca là chữ cũ, chỉ nghề đàn hát. Kiếp cầm ca là cái đời của người sống bằng tiếng đàn, tiếng hát. Một tay trống viết cho một đào hát về cái kiếp chung của cả hai. Mình nghe cái tên bài thôi đã thấy trong đó có cả những đêm diễn, những chuyến lưu diễn, những lần đèn sân khấu tắt rồi mà người nghệ sĩ còn ngồi lại.
Rồi có một bài làm cho nhiều người bây giờ nhớ ông nhất, bài Thuở Ấy Có Em, nổi tiếng qua giọng hát của ca sĩ Sĩ Phú. Câu mở đầu nghe như người ta lật lại một tấm hình cũ: Thuở ấy có em anh yêu cuộc đời. Chỉ một câu thôi, mà nói được cái điều nhiều người trải qua mà không biết diễn tả sao. Có một người ở bên, thì cả đời mình sáng lên.
Ông còn những bài như Nếu Ta Đừng Quen Nhau, Biết Nói Gì Đây, Mừng Nắng Xuân Về. Báo Thanh Niên và báo Ngôi Sao đều ghi ông viết chừng hai mươi bài. Có nguồn khác nói hơn ba mươi. Ít, nhưng bài nào cũng có người còn hát.
Tiếng trống lặng ở thành phố xa
Những năm sau, ông cùng gia đình sang Mỹ và sống ở San Francisco, thành phố có cây cầu đỏ và những buổi sáng sương mù, cũng hơi giống Đà Lạt năm ông mười lăm tuổi. Ông sống ở đó gần bốn mươi năm.
Năm hai nghìn lẻ bốn, ông cùng nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Song Ngọc được tôn vinh trong một chương trình ca nhạc lớn của người Việt ở California. Năm hai nghìn lẻ tám, theo trang Âm Nhạc, ông hội ngộ những người bạn nhạc sĩ, nhạc công từng chơi ở các phòng trà Sài Gòn ngày xưa. Mình thử hình dung mấy ông già tóc bạc ngồi lại với nhau, nhắc tên những sàn nhảy cũ, những điệu nhạc cũ. Chắc có người gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn, theo đúng cái nhịp năm nào.
Cuối tháng mười một năm hai nghìn mười ba, ông vào bệnh viện lần nữa. Theo bài tưởng niệm của Trần Quốc Bảo, ca sĩ Phương Hồng Quế gọi điện thăm ông chừng một tuần trước khi ông mất. Ông trả lời rất yếu: Mệt lắm em ơi.
Ba giờ chiều ngày mười ba tháng mười hai năm hai nghìn mười ba, nhạc sĩ Huỳnh Anh mất ở San Francisco, thọ tám mươi mốt tuổi. Báo Thanh Niên ghi ông mất ở bệnh viện, báo Ngôi Sao ghi ở nhà riêng.
Mình nghĩ về người tay trống ấy. Cả đời ông ngồi phía sau, giữ nhịp cho người khác hát, người khác nhảy, người khác được nhớ tên. Ông viết bài hát cho giọng của người khác, đo từng câu cho vừa với một giọng hát. Ít khi ông đứng ra giữa sân khấu.
Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ là cái lòng biết đứng phía sau. Ai cũng có những người như vậy quanh mình: người nấu cơm, người đưa đón, người lặng lẽ giữ nhịp cho cả nhà. Mình ít khi để ý tới họ. Mà thiếu họ thì mọi thứ lạc nhịp liền.
Lần tới, nếu nghe lại Mưa Rừng hay Thuở Ấy Có Em, mình thử lắng tai nghe cái nhịp ở dưới giai điệu. Biết đâu mình sẽ nghe được tiếng một cậu bé Cần Thơ mười lăm tuổi, ngồi sau dàn trống ở Đà Lạt, gõ nhẹ để giữ cho bài hát khỏi lạc.
Tình Ca. Ở đây có bình an.