Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 64

Doãn Mẫn – Cậu bé ngồi xem người ta chia tay

Sân ga Hàng Cỏ

Hà Nội cuối những năm ba mươi. Ở ga Hàng Cỏ, đoàn tàu xả khói trắng, tiếng còi kéo dài. Trên sân ga có người ôm nhau, có người nắm tay nhau chưa chịu buông, có người đứng nhìn theo toa tàu tới khi nó khuất hẳn. Và ở một góc, có một cậu thanh niên đứng nhìn hết những cảnh đó. Cậu không đi đâu, cũng không tiễn ai. Cậu chỉ đứng coi.

Cậu ra ga thường lắm, vì cha cậu là một viên chức làm việc ở ga Hàng Cỏ, nhà lại ở gần đó. Mấy năm sau, từ những gì cậu thấy ở sân ga, cậu viết ra một bài hát. Bài hát đó tên là Biệt Ly. Người viết là Doãn Mẫn, có khi được viết là Dzoãn Mẫn.

Ông sinh ngày mười lăm tháng mười năm một nghìn chín trăm mười chín, ở Hà Nội. Trang Dòng Nhạc Xưa ghi quê ông ở làng Hoàng Mai. Trong nhà không ai làm nghề nhạc. Nhưng người cha thì mê nhạc dân tộc, đặc biệt là đàn bầu. Đàn bầu là cây đàn một dây, tiếng ngân như tiếng người ta than nhỏ. Cậu con trai lớn lên trong tiếng đàn ấy, được cha chỉ cho chơi mấy món nhạc cụ cổ truyền.

Học xong trường Sư phạm, ông làm thư ký ở Bệnh viện Bạch Mai. Một chỗ làm yên ổn, sáng đi chiều về. Còn âm nhạc thì ông không được học ở trường nào. Ông tự học, chủ yếu bằng sách tiếng Pháp. Hồi đó sách nhạc tiếng Việt gần như chưa có. Muốn biết thế nào là hợp âm, thế nào là hòa âm, phải đọc sách Tây, dò từng chữ.

Ông bắt đầu bằng việc chơi đàn. Rồi ông tập đặt lời Việt cho những điệu nhạc Tây đang thịnh hành. Báo Tuổi Trẻ ghi rằng ông tự học cả thanh nhạc lẫn phối khí, rồi đi làm nhạc công một thời gian, trước khi bước sang sáng tác.

Mình nghĩ cái tuổi trẻ ấy rất giống nhiều người trẻ bây giờ. Không ai dạy, thì tự mò. Không có thầy, thì lấy sách làm thầy. Chỉ khác là ông mò ra được một con đường mà trước đó gần như chưa ai đi.

Mấy người bạn quanh Nhà thờ Lớn

Hồi đó, quanh Nhà thờ Lớn Hà Nội có rất nhiều thanh niên mê nhạc. Nhiều người bị cuốn vào âm nhạc từ chính tiếng thánh ca vọng ra từ nhà thờ. Doãn Mẫn là một trong số đó.

Khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu, ba mươi bảy, ông gặp lại Lê Yên, rồi hai người cùng trao đổi, cùng viết. Có thêm Văn Chung, người lo chuyện in ấn. Họ in nhạc dưới một cái tên chung là Tricéa, vốn là tên nhà xuất bản của nhóm. Các nguồn kể tên thành viên hơi khác nhau. Có bài ghi ba người là Văn Chung, Lê Yên và Doãn Mẫn. Có bài lại ghi tên Lê Lôi thay cho Lê Yên.

Báo Tuổi Trẻ và báo Nhân Dân đều ghi rằng nhóm muốn viết những giai điệu mang hồn Việt. Lúc đó người ta còn quen hát lời ta trên nhạc Tây. Mấy chàng trai này muốn bài hát Việt phải có giai điệu của người Việt. Theo trang Dòng Nhạc Xưa, mỗi lần nhóm in nhạc ra chừng một nghìn rưỡi tới hai nghìn bản. Với thời đó, vậy là nhiều lắm.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, ông viết bài Tiếng Hát Đêm Thu, phần lời có Văn Chung góp. Nhiều người coi đây là bài đầu tay của ông, và là một trong những bài mở đường cho tân nhạc Việt. Cùng năm có bài Gió Thu. Rồi Một Buổi Chiều Thu, Sao Hoa Chóng Tàn, Bến Yêu Đương, Hương Cố Nhân.

Mình để ý, mùa thu xuất hiện nhiều lắm trong mấy cái tên bài hát ấy. Có lẽ với một chàng trai Hà Nội mười tám tuổi, mùa thu là mùa dễ làm người ta nghĩ ngợi nhất. Lá vàng, gió heo may, trời cao và trong. Nhạc thì còn mới, chữ thì còn ngây thơ, nhưng cái nhìn đã rất tinh.

Trong mấy năm đó, có một ý định cứ nằm trong đầu ông. Ông muốn viết về chia ly. Nhưng ông chưa viết liền. Ông để nó đó, viết những bài khác trước. Phải hai năm sau, nó mới chín.

Biệt ly, nhớ nhung từ đây

Năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, Doãn Mẫn hai mươi tuổi. Ông viết xong Biệt Ly. Theo lời ông kể được trang Dòng Nhạc Xưa và báo Công An Nhân Dân ghi lại, ông có ý viết về chia ly từ năm ba mươi bảy, nhưng tới năm ba mươi chín mới hoàn thành.

Chất liệu là những gì ông thấy ở ga Hàng Cỏ, nơi cha ông làm việc. Ông còn nhớ những cuộc chia tay ở bến cảng Hải Phòng. Người đi thì bước lên tàu, người ở thì đứng lại, ai cũng biết mà không ai nói ra: lần này đi chưa biết bao giờ gặp lại.

Nhưng có một chuyện thú vị. Người ta nghe Biệt Ly, ai cũng tưởng ông đang kể mối tình của mình. Ông thì nói khác. Khi được hỏi về những cô gái trong bài hát của mình, ông trả lời, theo trang Dòng Nhạc Xưa và báo Công An Nhân Dân ghi lại: Tôi bịa ra đấy. Người em trong Biệt Ly cũng vậy, là một người ông tưởng tượng ra.

Mình nghe câu đó thì bật cười, mà rồi thấy cũng thấm. Ông không cần một mối tình riêng. Ông đứng ở sân ga đủ lâu, nhìn đủ nhiều người chia tay, tới mức nỗi buồn của họ thành của ông. Một người viết hay không phải vì mình khổ nhiều, mà vì mình nhìn kỹ.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi, Biệt Ly được hát lần đầu ở Hà Nội. Người hát là một ca sĩ tên Phụng. Bài hát đi vào đời theo một con đường rất lạ: nó được hát ở các rạp chiếu bóng, rồi học trò trường Bưởi, một ngôi trường trung học lâu đời ở Hà Nội, dựng thành cảnh diễn trên sân khấu. Từ đó người ta truyền tai nhau mà hát.

Câu mở đầu thì ai nghe một lần cũng nhớ: Biệt ly, nhớ nhung từ đây. Mình để ý nhé. Chữ biệt ly được hát chậm, kéo dài, như tiếng còi tàu. Rồi giai điệu đi xuống, nhẹ, như người đứng lại trên sân ga thở ra một hơi. Trang Dòng Nhạc Xưa tả giai điệu bài này mượt như nhung. Mình thấy đúng. Không có chỗ nào gắt, không có chỗ nào gào lên.

Báo Nhân Dân có một nhận xét mình rất thích. Thời đó nhiều văn nghệ sĩ viết về chia ly, và thường viết theo lối bi tráng. Biệt Ly thì khác. Nó tươi, nó nồng nàn, nó lãng mạn. Buồn đó, nhưng là cái buồn của tuổi hai mươi, còn tin vào ngày gặp lại.

Trong khoảng năm mươi bài ông viết, người ta thường nhắc nhất là Biệt Ly và Hương Cố Nhân. Bài đầu thì nói chuyện người đi. Bài sau thì nói chuyện người cũ. Hai bài như hai đầu của cùng một sân ga.

Hai mươi năm ngồi bàn giấy

Những năm sau, đời ông rẽ sang một ngả khác. Ông làm việc ở Trường Âm nhạc Việt Nam, nay là Nhạc viện Hà Nội. Theo báo Công An Nhân Dân, ông giữ chức trưởng phòng giáo vụ suốt hai mươi năm. Công việc là lo lịch học, lớp học, chương trình dạy. Trong hai mươi năm ấy, ông gần như không viết bài hát nào.

Mình đọc tới đó thì ngồi im một lúc. Một người hai mươi tuổi đã viết Biệt Ly, mà có hai mươi năm ngồi bàn giấy, lo cho người khác học nhạc. Ông không than. Ít ra thì không có nguồn nào ghi ông than. Ông chỉ làm việc của mình.

Rồi ông về Viện Âm nhạc. Ông viết hai công trình nghiên cứu, một về nền âm nhạc cải cách Việt Nam những năm ba mươi, bốn mươi, một về việc đào tạo người làm nhạc. Ông còn soạn một cuốn sách tên Tự Học Xướng Âm. Xướng âm là tập đọc nốt nhạc bằng giọng hát. Tác giả bài viết tưởng nhớ ông trên báo Tuổi Trẻ và báo Nhân Dân kể rằng chính cuốn sách nhỏ ấy đã giúp anh thoát cảnh mù nhạc hồi trẻ.

Có lẽ đó cũng là một cách viết nhạc. Không viết bài hát, thì viết sách cho người khác tự học, như ông từng tự học bằng sách Tây ngày xưa. Cái vòng ấy, mình thấy rất đẹp.

Ông cũng có viết thêm vài bài, như Gọi Nghé Trên Đồng, phần lời của Hồng Đăng. Nhưng phải tới khi đã ngoài bảy mươi tuổi, ông mới thật sự quay lại với việc sáng tác.

Cuối những năm tám mươi, Biệt Ly lại vang lên trên sân khấu. Một thế hệ ca sĩ mới hát lại bài hát cũ. Người ta coi ca sĩ Ngọc Bảo là giọng hát Biệt Ly hay nhất. Còn chính ông thì sao? Theo lời được báo Công An Nhân Dân và trang Dòng Nhạc Xưa ghi lại, ông cho rằng Lan Ngọc ở miền Nam và Thùy Dung ở miền Bắc là hai người hát đúng cái tình ông muốn gửi gắm.

Ông cũng không ngại nói thẳng. Ông không thích cái kiểu hát nhạc tiền chiến cho có phong trào, mà chẳng để ý hát cho đúng. Ông than rằng có nhiều bài của mình bị phối lại tới mức ông nghe không nhận ra. Theo trang Dòng Nhạc Xưa, ông nói một câu: Làm mới, không có nghĩa là làm khác đi.

Người cuối cùng của nhóm bạn

Những năm cuối đời, người ta hay gặp ông ở phố Nhà Thờ, cũng gần chỗ ngày xưa mấy người bạn trẻ tụ lại mê nhạc. Một nhà báo viết trên báo Nhân Dân tả ông lúc ấy: nhỏ nhẹ, tươi vui, kể chuyện xưa không biết mỏi. Một ông cụ ngoài bảy mươi, vẫn nhớ từng con đường, từng người bạn của tuổi hai mươi.

Nhạc sĩ Hoàng Giác, tác giả bài Mơ Hoa, từng nói một câu được nhiều nơi ghi lại: Người mà tôi quý nhất là anh Doãn Mẫn. Giữa những người làm nhạc với nhau, một câu như vậy quý lắm.

Ngày mười ba tháng tư năm hai nghìn lẻ bảy, Doãn Mẫn mất ở Hà Nội. Theo năm sinh, ông vừa qua tám mươi bảy tuổi. Báo Tuổi Trẻ ghi ông ra đi ở tuổi tám mươi tám, có lẽ tính theo tuổi ta. Báo chí kể rằng rất nhiều người xếp hàng dài để tiễn ông. Báo Nhân Dân viết rằng ông là người cuối cùng của nhóm Tricéa còn ở lại, rồi cũng đi.

Mình nghĩ lại cậu thanh niên đứng ở sân ga Hàng Cỏ năm nào. Cậu đứng nhìn người ta chia tay mà không chia tay ai. Rồi cả đời, cậu là người ở lại nhìn bạn bè đi trước. Văn Chung đi, Lê Yên đi, Ngọc Bảo đi. Tới phiên mình, thì bài hát của cậu ở lại tiễn cậu.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ là cái cách ông nhìn đời. Ông không cần có một mối tình buồn mới viết được bài hát buồn. Ông chỉ cần đứng yên, nhìn kỹ, và thương những người đang đứng trước mặt mình. Nhiều khi mình cũng nên tập như vậy, đứng lại một chút ở những chỗ người ta chào nhau.

Lần tới, nếu có dịp nghe Biệt Ly, mình thử nhắm mắt lại. Nghe chữ biệt ly kéo dài như tiếng còi. Nghe giai điệu đi xuống nhẹ như hơi thở của người ở lại. Biết đâu mình sẽ thấy một sân ga cũ, khói trắng, và một cậu thanh niên hai mươi tuổi đứng ở góc, lặng lẽ nhớ hết.

Tình Ca. Ở đây có bình an.