Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 63

Lê Trọng Nguyễn – Tờ giấy kẻ nhạc trong túi áo

Cây bút máy và mấy dòng kẻ nhạc

Có một ông thầy dạy nhạc ở Quảng Nam, đi đâu cũng mang trong túi áo một tờ giấy kẻ sẵn năm dòng nhạc và một cây bút máy. Đang đi ngoài đường, chợt có một câu nhạc hiện ra trong đầu, ông dừng lại, rút giấy ra ghi liền. Ghi xong, xếp tờ giấy bỏ lại vô túi, rồi đi tiếp như không có chuyện gì.

Chuyện đó do một người học trò cũ kể lại trên báo Thanh Niên, người từng ở trọ gần nhà ông hồi học trung học. Ông thầy ấy tên là Lê Trọng Nguyễn. Ông viết không nhiều. Nhưng có một bài của ông đã đi xa hơn hầu hết bài hát Việt cùng thời, qua tới Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông. Bài đó tên là Nắng Chiều.

Ông sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu ở Điện Bàn, Quảng Nam. Có trang ghi năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, nhưng phần đông tài liệu ghi ngày mùng một tháng năm năm hai mươi sáu. Tên khai sinh của ông là Lê Trọng. Chữ Nguyễn phía sau, theo nhiều nguồn, là họ của mẹ ông.

Mình nghĩ cái tên đó có lý do của nó. Cha ông mất sớm. Người mẹ ở vậy, một mình nuôi hai chị em ăn học. Nhà khi đó có mở một trường tư thục nhỏ ở Hội An. Một cậu con trai lớn lên trong tay mẹ, rồi ghép họ mẹ vào tên mình, thì cũng đủ hiểu cậu thương mẹ cỡ nào.

Hội An những năm bốn mươi là một phố nhỏ ven sông Thu Bồn, nhà ngói rêu phong, đèn lồng treo trước hiên. Hồi đó người Pháp gọi Hội An là Faifoo. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, nhạc sĩ La Hối, một người gốc Hoa ở phố cổ, lập một hội những người yêu âm nhạc. Nhiều người coi đó là lớp dạy tân nhạc đầu tiên ở đất này. Cậu Lê Trọng là một trong những thanh niên tới học.

Rồi từ khoảng năm bốn mươi hai tới năm bốn mươi lăm, cậu ra Hà Nội học và quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Phần lớn thời gian, cậu tự học nhạc bằng sách tiếng Pháp. Sau này ông còn theo học hàm thụ, tức là học qua thư từ, với một trường ở Pháp tên là École Universelle. Ông trở thành hội viên của hội tác quyền âm nhạc nước Pháp, nhờ một bài hát viết về con sông quê mình.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu, ông viết bài đầu tay, Ngày mai trời lại sáng. Cái tên bài hát nghe như một lời tự hứa của người trẻ. Nhưng phải mấy năm sau, khi đã đi qua một mối tình, ông mới viết được bài hát làm người ta nhớ tên mình.

Người con gái tạm trú ở phố Hội

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, có một gia đình công chức từ Quy Nhơn ra Hội An tạm trú. Nhà đó có một cô con gái duy nhất. Chàng trai Lê Trọng Nguyễn để ý cô. Rồi thời cuộc đổi thay, gia đình ấy lại dọn đi nơi khác. Mối tình chưa kịp thành hình đã phải dừng lại.

Về sau, trong một lần trả lời phỏng vấn được nhiều nơi dẫn lại, ông kể chuyện đó rất ngắn. Ông chỉ nói một câu: tôi yêu người con gái ấy. Ngoài câu đó, ông ít khi chịu nói thêm. Báo Thể Thao và Văn Hóa ghi rằng mỗi lần có người hỏi về gốc gác bài Nắng Chiều, ông thường từ chối trả lời. Cho nên quanh bài hát có nhiều giai thoại, mà phần nhiều không ai kiểm chứng được.

Khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, năm mươi ba, ông ra Huế. Có nguồn ghi năm năm mươi hai, có nguồn ghi năm năm mươi ba. Ở Huế, theo chính lời ông, ông viết Nắng Chiều. Có tài liệu kể ông viết xong bài trong khoảng nửa giờ. Có tài liệu nói thêm rằng ở Huế, ông bắt gặp một thiếu nữ đi ngang hồ sen trong nắng chiều, và hình ảnh ấy làm bật ra bài hát. Mình kể ra đây cho đủ, nhưng chính ông chưa bao giờ xác nhận chuyện cô gái ở Huế.

Người đầu tiên hát và thu đĩa Nắng Chiều là ca sĩ Minh Trang, một người bạn trong giới văn nghệ Huế. Bài hát được phát trên Đài Phát thanh Huế, rồi Đài Phát thanh Sài Gòn. Từ đó nó đi khắp miền Trung và miền Nam.

Nghe Nắng Chiều, mình để ý cái nhịp. Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, người từng là học trò của ông, cho rằng đây là bài theo điệu rumba bô lê rô đầu tiên của tân nhạc Việt. Rumba là điệu nhảy gốc Cu Ba, nhịp đong đưa. Bô lê rô thì chậm hơn, nghe như người ta vừa đi vừa kể. Hai cái đó gặp nhau, thành ra một bài hát vừa lắc lư nhè nhẹ, vừa buồn man mác.

Có một điều lạ nữa. Trang Dòng Nhạc Xưa ghi rằng bài hát viết ở giọng trưởng. Giọng trưởng thường nghe sáng, nghe tươi. Vậy mà Nắng Chiều lại buồn. Cái buồn của nó giống như ánh nắng cuối ngày: vẫn còn ấm, vẫn còn vàng, chỉ là sắp tắt. Buồn mà không than, không trách ai. Mình nghĩ chính chỗ đó làm bài hát sống lâu.

Năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, người chị của ông, bà Lê Thị Ba, mất. Theo lời vợ ông kể lại, ông đã bán hợp đồng tái bản bài Nắng Chiều để lo đám tang cho chị, và để cùng mẹ nuôi mấy đứa cháu còn nhỏ. Một bài hát tình, rốt cuộc lại thành tiền lo cho người nhà. Mình đọc tới đó thấy thương ông nhiều hơn là phục.

Một bài hát đi qua biển

Khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, năm mươi tám, một đoàn nghệ thuật Nhật Bản sang biểu diễn ở Sài Gòn. Trong đoàn có nữ ca sĩ Midori Satsuki. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, bạn thân của ông, giới thiệu bài Nắng Chiều cho cô. Cô hát bài này ở hội chợ Thị Nghè, rồi về sau làm luôn bản lời Nhật và lời Anh, hát nhiều năm trên đài phát thanh.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà hát Nắng Chiều bằng tiếng Hoa, lời do Thận Chi đặt. Bài hát có tên mới, nghe rất giản dị: Bản tình ca Việt Nam. Theo tạp chí Đáng Nhớ, cô còn tới tận Hội An để xin phép tác giả. Ở Đài Loan, Hồng Kông, rồi xa hơn nữa, nhiều người thuộc giai điệu ấy mà không biết người viết là một ông thầy dạy nhạc ở Quảng Nam.

Báo Thể Thao và Văn Hóa cho rằng Nắng Chiều có lẽ là bài hát Việt sớm nhất và đi ra thế giới rộng nhất, với lời Hoa, lời Nhật, lời Anh, lời Khơ me. Tới giờ, ở các quán hát karaoke bên Nhật, bên Trung Hoa hay Cam pu chia, vẫn có người chọn bài này.

Đi xa như vậy thì cũng kéo theo nhiều lời đồn. Có người kể chuyện cô ca sĩ này viết thư cho ông, cô ca sĩ kia cảm mến ông. Ông không bao giờ xác nhận chuyện nào. Mình nghĩ cũng không cần. Cái bài hát được người ta hát bằng mấy thứ tiếng, vậy đã đủ là một chuyện đẹp rồi.

Đầu thập niên bảy mươi, đạo diễn Lê Mộng Hoàng làm phim Nắng Chiều, lấy chính bài hát làm nhạc chủ đề, có nghệ sĩ Thanh Nga và Hùng Cường đóng. Có nguồn ghi phim ra năm bảy mươi mốt, có nguồn ghi năm bảy mươi ba. Hơn hai mươi năm sau, đạo diễn Trần Anh Hùng lại đưa giai điệu ấy vào phim Xích Lô của mình.

Một bài hát được viết trong nửa giờ, theo lời kể, vậy mà sống được hơn nửa thế kỷ, đi qua mấy nước. Còn người viết thì vẫn đi bộ ngoài phố, túi áo có tờ giấy kẻ nhạc và cây bút máy.

Sân nhà thờ, chùa Bà Mụ và cồn dâu

Ông viết ít. Bài báo của Vũ Đức Sao Biển nói ông có chừng chín bài hát được công bố. Nhưng bài nào cũng có chỗ đứng, và lạ một điều, bài nào cũng gắn với một chỗ có thật ở quê ông.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Duy Lộc, bài Chiều Bên Giáo Đường ra đời trong sân nhà thờ Hội An. Một bài viết khác của Vương Trùng Dương lại kể ông viết bài này hồi dạy học ở trường Gia Hựu, bên Bình Định, nơi ông hay gặp gỡ các vị linh mục. Hai nguồn khác nhau, nhưng điểm chung là một buổi chiều, một mái nhà thờ, và tiếng chuông.

Bài Lá Rơi Bên Thềm, ông viết chung với người bạn Nguyễn Hiền, ra đời trong khuôn viên chùa Bà Mụ ở Hội An. Còn bài Bến Giang Đầu thì ra đời trên cồn dâu Gò Nổi ở Điện Bàn, nơi bãi bồi giữa sông trồng dâu nuôi tằm xanh mướt. Rồi bài Sóng Đà Giang. Đà Giang ở đây là một tên gọi của sông Thu Bồn. Chính bài này đưa ông vào hội tác quyền âm nhạc nước Pháp.

Năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, trường trung học Nguyễn Duy Hiệu mở ở Vĩnh Điện, và ông về dạy nhạc ở đó. Theo nhiều nguồn, trong số học trò của ông có Vũ Đức Sao Biển và Đynh Trầm Ca, hai người sau này cũng thành nhạc sĩ. Người học trò ở trọ gần nhà ông kể rằng ông chính là người chỉ cho mình những bài nhạc lý đầu tiên.

Vũ Đức Sao Biển còn nhận xét một điều mình thấy rất hay. Ông Lê Trọng Nguyễn lấy cái thang năm âm của dân ca Quảng Nam, đem ghép với điệu rumba, bô lê rô, slow, có khi cả calypso, là một điệu vui của vùng biển Ca ri bê. Rồi ông làm chậm nhịp lại, cho bài hát lắng xuống. Nghe thì là nhạc Tây, mà hồn thì vẫn là câu hò bên bờ Thu Bồn.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương, bạn thân của ông, coi ông là một người hiểu biết rất sâu về âm nhạc. Một người hiểu sâu như vậy mà chỉ viết chín bài. Mình nghĩ ông không thiếu chữ, không thiếu nốt. Ông chỉ viết khi có một chỗ, một buổi chiều, một người làm ông phải dừng chân, rút tờ giấy ra.

Người thầy tự tay làm đàn

Có một điều ít người để ý: Lê Trọng Nguyễn không sống bằng nghề nhạc. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, ông làm giám đốc cho một hãng buôn của người Pháp. Năm sáu mươi tám, ông làm giám đốc điều hành một công ty ở Đà Nẵng. Ông đi về giữa Đà Nẵng và Sài Gòn bằng máy bay, và quen bà Nguyễn Thị Nga, một cô nhân viên hãng hàng không.

Năm một nghìn chín trăm bảy mươi, hai người nên duyên, và ông dọn vô Sài Gòn. Năm bảy mươi ba, ông làm giám đốc một nhà máy dầu. Nghe toàn chuyện sổ sách, hợp đồng, máy móc. Vậy mà người đàn ông ấy vẫn là người viết Nắng Chiều.

Rồi có những năm cuộc sống khó khăn hơn. Ông mở lớp dạy nhạc ngay tại nhà, và tự tay làm đàn để kiếm sống. Mình cứ hình dung cảnh ấy hoài. Một ông giám đốc cũ ngồi bào gỗ, căng dây, lên phím. Cây đàn làm xong thì đem bán, hoặc đưa cho học trò tập. Người viết nhạc mà làm ra được cả cây đàn, thì đúng là thương nhạc tới tận gốc.

Tháng ba năm một nghìn chín trăm tám mươi ba, ông cùng vợ và bốn người con sang Mỹ, sống ở Rosemead, miền Nam bang California. Ông sống lặng lẽ ở đó hơn hai mươi năm.

Ngày chín tháng giêng năm hai nghìn lẻ bốn, ông mất vì bệnh ung thư phổi ở bệnh viện City of Hope, thọ bảy mươi bảy tuổi. Năm sau, bạn bè và ca sĩ tổ chức một đêm tưởng niệm ông ở Westminster, California. Năm hai nghìn mười tám, đúng dịp sinh nhật ông, một tuyển tập tên Lê Trọng Nguyễn, Âm nhạc và Bạn hữu được ra mắt.

Mình hay nghĩ về tờ giấy kẻ nhạc trong túi áo ông. Một người không coi âm nhạc là nghề kiếm sống, nhưng lúc nào cũng mang nó sát bên ngực. Nhạc với ông không phải chuyện danh tiếng. Nó là chuyện để dành cho những buổi chiều đẹp, những chỗ thân quen, những người mình thương mà không giữ được.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ là vậy. Mỗi người ai cũng có một buổi chiều nắng vàng trong đời, một người đi ngang rồi đi mất. Lê Trọng Nguyễn không than thở về chuyện đó. Ông chỉ ghi nó lại, bằng mấy dòng kẻ nhạc, rồi để cho người khác hát giùm.

Lần tới, nếu nghe lại Nắng Chiều, mình thử để ý cái nhịp đong đưa nhè nhẹ, và cái giọng trưởng sáng mà buồn. Biết đâu mình sẽ thấy một ông thầy dạy nhạc đứng bên bờ sông Thu Bồn, rút tờ giấy trong túi áo ra, ghi vội một câu nhạc trước khi nắng tắt.

Tình Ca. Ở đây có bình an.