Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 55

Hoài Đức – Tiếng chuông chiều ở Bút Đông

Bước xuống từ nhà thờ

Một buổi chiều mùa đông năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, ở một xứ đạo nhỏ tên là Bút Đông, tỉnh Nam Định. Một thầy chủng sinh hai mươi ba tuổi vừa viếng hang đá xong, bước xuống từ nhà thờ. Đúng lúc ấy, tiếng chuông nguyện ban chiều ngân lên.

Theo lời chính ông kể lại, ý nhạc của điệp khúc đến với ông ngay trong khoảnh khắc ấy. Một giai điệu đi lên, rồi ngân dài, giống như tiếng chuông đang lan ra trên cánh đồng. Từ tiếng chuông chiều ấy, bài Cao Cung Lên ra đời.

Người thầy chủng sinh ấy về sau là linh mục Giuse Lê Đức Triệu. Còn người hát thánh ca khắp nơi thì biết ông bằng một cái tên khác: Hoài Đức.

Hơn tám mươi năm rồi, mỗi đêm Giáng Sinh, ở biết bao nhà thờ, từ xóm đạo miền quê tới nhà thờ lớn giữa thành phố, ca đoàn vẫn cất lên bài hát ấy. Nhiều người hát thuộc lòng từ nhỏ mà không biết người viết là ai, viết trong hoàn cảnh nào. Hôm nay, mình kể về ông.

Cậu bé ở Vĩ Nhuế

Theo bản tiểu sử đăng trên trang của Giáo phận Ban Mê Thuột, ông sinh ngày một tháng bảy năm một nghìn chín trăm hai mươi hai, ở làng Vĩ Nhuế, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Ông là người con thứ năm trong một gia đình có chín anh chị em.

Có một chi tiết nhỏ giải thích vì sao các tài liệu ghi năm sinh của ông khác nhau. Giấy khai sinh của ông ghi năm một nghìn chín trăm hai mươi ba, vì ngày ấy ông khai bớt tuổi để được vào trường. Vậy nên có nơi ghi năm hai mươi hai, có nơi ghi năm hai mươi ba.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, ông đậu bằng sơ học, rồi vào thẳng Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Ở đó, ông học sáu năm tiếng Latin, thứ tiếng của kinh lễ thời ấy. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, ông vào Đại chủng viện Xuân Bích ở Hà Nội.

Cái tên Hoài Đức cũng có một câu chuyện. Theo bản tiểu sử ấy, ông chọn bút danh này để tưởng nhớ người cha đỡ đầu của mình, ông Trần Tiến Đức. Hoài là nhớ. Hoài Đức là nhớ ông Đức. Một bút danh mang theo lòng biết ơn, theo ông suốt một đời viết nhạc.

Để hiểu vì sao Cao Cung Lên được quý như vậy, mình phải nhớ một điều. Theo lời chính linh mục Hoài Đức, trước năm một nghìn chín trăm bốn mươi, nhà thờ ở nước mình hầu như chỉ hát bằng tiếng Latin, đôi khi bằng tiếng Pháp. Bài hát Việt hoàn toàn, lời Việt, nhạc của người Việt viết, chỉ mới bắt đầu có sau đó. Người giáo dân quê đứng trong nhà thờ, nhiều khi hát mà không hiểu hết từng chữ mình hát.

Mùa Giáng Sinh năm bốn mươi lăm

Cuối năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, Đại chủng viện Xuân Bích phải tạm đóng cửa. Các thầy chủng sinh tản về các nơi. Thầy Triệu về giúp xứ Bút Đông. Ở đó còn có một người bạn từng học chủng viện, về sau cũng làm linh mục, tên là Nguyễn Khắc Xuyên.

Mùa Giáng Sinh năm ấy, giữa những ngày tản cư, Cao Cung Lên ra đời. Theo bài viết trên trang T.Vấn và Bạn Hữu, Hoài Đức viết điệp khúc và đoạn thứ nhất. Người bạn Nguyễn Khắc Xuyên đặt lời cho những đoạn sau. Chính Hoài Đức về sau có nhận xét rằng văn phong những đoạn sau hơi khác với đoạn đầu. Vì vậy, khi nhắc tới bài này, người ta thường ghi tên cả hai người: nhạc Hoài Đức, lời Hoài Đức và Nguyễn Khắc Xuyên.

Nghe Cao Cung Lên, mình thấy ngay tiếng chuông trong đó. Câu nhạc mở ra cao, sáng, rồi ngân dài ở cuối, như tiếng chuông đánh xong còn vang mãi trong không gian. Mình hiểu chữ cao cung lên là hãy nâng cung nhạc lên thật cao. Lời ca mừng đêm Chúa ra đời, trang trọng mà không cầu kỳ.

Mình nghĩ cái làm bài hát này sống lâu là nó vừa trang trọng vừa dễ hát. Một ca đoàn lớn trong nhà thờ chính tòa có thể hát nó với đàn phong cầm và nhiều bè. Nhưng một nhóm thiếu nhi ở xóm đạo nghèo, chỉ với một cây đàn guitar, cũng hát được nó. Ai cũng thấy mình có phần trong niềm vui ấy.

Về sau, bài hát còn đi ra khỏi nhà thờ. Trên đài phát thanh, trên băng đĩa, nhiều giọng hát quen thuộc đã thu lại bài này. Một chương trình nhạc cuối tuần trên một đài phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài có giới thiệu bản thu của Thái Thanh cùng Sĩ Phú và Anh Khoa. Các trang khác nhắc thêm Lệ Thu, Khánh Ly, Khánh Hà, Giao Linh, Thế Sơn, Hồng Nhung.

Cao Cung Lên không phải bài Giáng Sinh duy nhất của ông. Trong những năm tản cư, ông còn viết Đêm Đông Âm U, Mùa Đông Năm Ấy, Cùng Đi Bêlem. Bêlem là tên thị trấn nhỏ, nơi Chúa Giêsu ra đời, mà theo truyền thống là trong một hang đá. Bài Cùng Đi Bêlem, theo bản tiểu sử của Giáo phận Ban Mê Thuột, là bài ông cùng viết với Nguyễn Khắc Xuyên và Bùi Vĩnh Phước, trong đó ông lo phần lời. Mình nhắc điều này để thấy, những bài thánh ca đầu tiên của người Việt nhiều khi là công sức chung của mấy người bạn trẻ.

Nhà thơ Lê Đình Bảng, người từng tìm hiểu kỹ về thánh ca của ông, gọi những năm từ bốn mươi lăm tới bốn mươi chín là giai đoạn ngẫu hứng. Tức là những bài viết ra từ cảm xúc đến bất chợt, như tiếng chuông chiều ở Bút Đông.

Người linh mục giữ lời hứa

Học hành bị gián đoạn nhiều năm, phải đến năm một nghìn chín trăm năm mươi chín ông mới được thụ phong linh mục, ở nhà thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. Có nguồn ghi năm sáu mươi. Lúc ấy ông đã ngoài ba mươi lăm tuổi.

Ông dạy nhạc, dạy tiếng Latin ở Tiểu chủng viện Piô Mười Hai ở Sài Gòn, rồi lên Kontum, rồi về Ban Mê Thuột. Ông soạn cả một cuốn sách dạy hát bình ca cho các chủng sinh. Bình ca là lối hát kinh rất cổ của nhà thờ, một bè, không nhịp mạnh, ngân theo lời kinh. Ông từng làm thư ký của Ủy ban Thánh nhạc, nơi lo việc hát xướng trong nhà thờ cả nước.

Ở Ban Mê Thuột, ông lo việc bác ái của giáo phận. Ông mở quán cơm bình dân cho người nghèo, mở nhà dưỡng lão. Bản tiểu sử của giáo phận tả ông là người khiêm nhường, trung thành, giữ lời hứa. Có lần, ông nhường lại quán cơm mà không đòi một đồng bồi thường nào.

Giai đoạn này, nhà thơ Lê Đình Bảng gọi là giai đoạn bài bản. Ông không còn viết theo ngẫu hứng, mà lấy lời từ kinh nguyện và Kinh Thánh, đặt nhạc giản dị cho giáo dân dễ hát. Ông viết nhiều nhất về Đức Mẹ, có tới mười tám bài. Tổng cộng, ông để lại khoảng chín mươi mốt bài.

Có một giai thoại dễ thương. Ông từng viết bài Dâng Mình chỉ trong một đêm, sau một buổi tối đi bộ dưới trăng ở Sài Gòn. Người viết Cao Cung Lên từ tiếng chuông chiều, mấy chục năm sau vẫn viết nhạc từ ánh trăng. Mình thấy ông vẫn là cậu thầy chủng sinh năm nào, chỉ cần một tiếng động nhỏ, một ánh sáng nhỏ, là có nhạc.

Những năm sau, có một quãng dài ông phải sống xa giáo phận, xa những ca đoàn của mình. Theo nhà thơ Lê Đình Bảng, ngay trong quãng ấy, ông vẫn viết những bài hợp xướng, phần lớn chưa được phổ biến. Rồi ông trở về Sài Gòn, nhận dẫn dắt một nhạc đoàn mang tên Lê Bảo Tịnh, cho tới khi sức khỏe không còn cho phép.

Nước mắt và nụ cười

Một cơn tai biến làm ông liệt nửa người bên phải và không nói được nữa. Ông về sống ở nhà hưu dưỡng của các linh mục ở Chợ Lớn. Theo một bài viết đăng trên trang Vietcatholic đầu năm hai nghìn lẻ bảy, ông đã ở đó khoảng tám năm. Người cháu ruột, cô Lê Thị Quế, ở bên chăm sóc ông.

Ông không tự ngồi dậy được. Nhưng mỗi buổi sáng, ông vẫn được đẩy xe lăn đi dự lễ. Bài báo kể một điều làm mình nhớ mãi. Khi có ai nhắc tới những bài hát của ông, ông hiểu hết. Ông không nói được, chỉ đáp lại bằng nét mặt, bằng nước mắt, và bằng tiếng cười.

Mình nghĩ tới người nhạc sĩ ấy, nằm trong căn phòng nhỏ, mỗi mùa Noel lại nghe từ đâu đó vọng về bài Cao Cung Lên. Người viết ra nó không còn hát được nữa. Nhưng biết bao người đang hát thay ông.

Linh mục Hoài Đức mất ngày bảy tháng bảy năm hai nghìn lẻ bảy. Có nơi ghi năm hai nghìn lẻ sáu, nhưng bài báo đầu năm hai nghìn lẻ bảy vẫn kể về ông lúc còn sống.

Vì sao người Việt hát Cao Cung Lên mỗi mùa Giáng Sinh? Mình nghĩ vì nó là một trong những lần đầu tiên người giáo dân Việt được mừng đêm thánh bằng tiếng mẹ đẻ. Nó ra đời ở một xứ đạo quê, giữa những ngày tản cư thiếu thốn, từ tiếng chuông chiều và một hang đá nhỏ. Cái gốc ấy giản dị, nên ai hát cũng thấy gần.

Mùa Noel năm nay, nếu bạn đứng ngoài một nhà thờ và nghe ca đoàn cất lên bài ấy, thử nhớ tới một buổi chiều mùa đông ở Bút Đông. Một thầy chủng sinh trẻ bước xuống bậc thềm, tiếng chuông vang lên, và một giai điệu đi theo người đời suốt hơn tám mươi năm.

Tình Ca. Ở đây có bình an.