Những người viết nên Tình Ca · Tập 51
Hải Linh – Bài ca đêm đông ở Phát Diệm
Một số báo Giáng Sinh
Tháng mười một năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, ở Nam Định. Trời đã chớm lạnh. Ông chủ nhiệm một tờ báo Công giáo tên là Đường Sống đang lo cho số báo Giáng Sinh sắp tới. Ông muốn số báo ấy có một bài hát mới, một bài hát mà người ta có thể cầm tờ báo lên và hát ngay trong đêm Noel.
Ông tìm đến một thầy giáo trẻ đang dạy nhạc ở vùng ấy. Thầy giáo năm đó hai mươi lăm tuổi. Theo những bài viết kể lại, ông chủ nhiệm đã thách thầy viết một bài Giáng Sinh trong thời gian thật ngắn. Thầy nhận lời. Chỉ ba ngày sau, thầy mang bài hát đến.
Thầy giáo ấy là Hải Linh. Bài hát ấy là Hang Bêlem.
Đến hôm nay, đã hơn tám mươi năm trôi qua. Cứ mỗi độ tháng mười hai, ở rất nhiều nhà thờ, từ những xóm đạo nhỏ ở miền quê cho tới các thánh đường lớn ở Sài Gòn, người ta lại cất lên bài hát ấy. Nhiều người hát thuộc lòng mà không biết tên người viết. Hôm nay, mình muốn kể về người ấy, một người mà chính ông có lần nói rằng đời mình là một chuỗi dài cô đơn.
Cậu bé làng Ứng Luật
Hải Linh sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi, ở giáo xứ Ứng Luật, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo phận Phát Diệm. Về ngày sinh, các nguồn ghi khác nhau. Có bài ghi ông sinh ngày bốn tháng mười, đúng ngày lễ thánh Phanxicô Assisi, vị thánh nghèo khó của nước Ý. Nhưng giấy khai sinh của ông lại ghi ngày ba mươi tháng mười. Tên thánh của ông là Phanxicô.
Cái tên của ông cũng có một câu chuyện. Theo bài hồi ký đăng trên trang của cựu học sinh trường Taberd, tên khai sinh của ông là Trần Văn Đệ. Khi vào sống trong nhà dòng, theo lệ của giáo phận Bùi Chu thời ấy, ông được đổi tên hai lần, lần sau cùng thành Trần Văn Linh. Nhiều trang tư liệu ngày nay chỉ ghi tên thật của ông là Trần Văn Linh. Còn Hải Linh là cái tên ông ký dưới những bản nhạc.
Năm mười một tuổi, cậu bé được gửi lên Bùi Chu để bắt đầu đời sống trong chủng viện. Ở đó, cậu sớm lộ năng khiếu âm nhạc. Cậu học nhạc với một linh mục người nước ngoài, rồi tự mày mò học nhạc lý. Năm hai mươi tuổi, ông vào trường Thầy Giảng Bùi Chu, rồi ở lại dạy tiếng Pháp và dạy nhạc. Ông bắt đầu viết những bài hát đầu tiên, có cả bài hát về Đức Mẹ.
Mình hay nghĩ về hình ảnh một thầy giáo trẻ đứng trước lớp ở một miền quê đồng chiêm. Bên ngoài là ruộng lúa, là những tháp chuông nhà thờ nhô lên giữa các làng. Tiếng chuông sáng tối điểm giờ cho cả vùng. Âm nhạc của ông lớn lên giữa những tiếng chuông ấy, giữa những buổi đọc kinh ngân nga của các bà các mẹ. Đó là thứ âm nhạc đầu tiên mà một cậu bé xóm đạo được nghe.
Và rồi đến mùa đông năm bốn mươi lăm, cái mùa đông đã gắn tên ông vào đêm Giáng Sinh của người Việt.
Đêm vọng ở nhà thờ lớn Phát Diệm
Ông chủ nhiệm tờ Đường Sống tên là Đỗ Viết Phúc, bút hiệu là Minh Châu. Bài hát thầy Hải Linh mang đến được đem lên Hà Nội. Ở đó, họa sĩ Mạnh Quỳnh khắc bản nhạc lên gỗ để in. Thời ấy chưa có máy in nhạc tiện lợi như sau này, nên mỗi nốt nhạc, mỗi chữ đều phải khắc tay trên một tấm gỗ. Theo tư liệu kể lại, báo in hai nghìn bản kèm bản nhạc, và in riêng thêm năm trăm bản để bán.
Cũng vì bài hát ra đời từ lời đặt hàng của tờ báo, nên tên tác giả bài Hang Bêlem về sau thường được ghi kép là Hải Linh và Minh Châu. Nhưng nhiều bài viết khác lại chỉ ghi tên Hải Linh là người viết. Các nguồn ghi khác nhau, và mình xin kể đúng như vậy. Có một bài viết còn cho biết lúc đầu bài hát mang một cái tên giản dị là Hát Khen.
Đêm hai mươi bốn tháng mười hai năm ấy, trong thánh lễ đêm vọng Giáng Sinh ở nhà thờ chính tòa Phát Diệm, ca đoàn của nhà thờ hát bài Hang Bêlem lần đầu tiên. Người đứng điều khiển ca đoàn chính là thầy Hải Linh. Nhà thờ Phát Diệm là một ngôi thánh đường lớn bằng đá và gỗ, mái cong như một ngôi đình. Mình tưởng tượng tiếng hát vang lên giữa những hàng cột gỗ lim, trong một đêm đông Bắc Bộ rét buốt.
Bài hát mở đầu bằng một câu mà nhiều người Việt nghe là nhận ra ngay: Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Câu hát giản dị như một lời kể chuyện. Không có chữ nào cầu kỳ. Chỉ có cái lạnh của đêm đông, một hang đá nghèo, và một Hài Nhi nằm đó. Người già nghe hiểu, trẻ nhỏ nghe cũng hiểu.
Theo một bài viết đăng nhân dịp giỗ hai mươi lăm năm của ông, nhạc sĩ Phạm Duy từng nhận định Hang Bêlem là một trong những bài hát hay nhất thời ấy. Ông còn nói bài hát được phổ biến rất nhanh, ở cả người có đạo lẫn người không có đạo. Mình nghĩ đó là điều quý nhất của một bài hát Giáng Sinh. Nó không chỉ ở trong nhà thờ. Nó đi ra ngoài phố, vào trong nhà, vào cả những người chưa bao giờ đi lễ.
Vì sao người Việt hát bài này mỗi mùa Noel suốt hơn tám mươi năm? Mình nghĩ một phần vì nó dễ hát. Giai điệu đi gần với giọng nói, không đòi hỏi giọng cao, một ca đoàn nhỏ ở xứ đạo nghèo cũng hát được. Một phần nữa vì nó kể đúng cái lạnh. Người Việt ở miền Bắc biết thế nào là một đêm đông rét. Người Sài Gòn thì có những đêm Noel se se gió bấc. Khi hát lên chữ đêm đông, ai cũng có một mùa đông của riêng mình để nhớ.
Vị linh mục coi sóc ông thời ấy đã khen ngợi ông sau đêm hát đầu tiên. Và mấy năm sau, chính vị ấy chọn ông đi học nhạc ở châu Âu. Một bài hát viết trong ba ngày đã mở ra cả một con đường.
Paris, Hồn Nước và Đà Lạt
Đầu năm một nghìn chín trăm năm mươi, Hải Linh lên đường đi học. Ông ở Rôma vài tháng, rồi sang Paris. Ở đó ông học tại Viện Giáo Nhạc và trường nhạc César Franck, một ngôi trường mang tên một nhà soạn nhạc người Pháp gốc Bỉ chuyên viết nhạc cho đàn đại phong cầm trong nhà thờ. Năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu, ông tốt nghiệp hạng ưu.
Luận văn của ông có một cái tên rất đáng nhớ, tạm dịch là Màu sắc Việt Nam trong bình ca. Bình ca là lối hát kinh cổ xưa của Giáo hội, chỉ một giọng, không có nhịp mạnh, ngân nga như hơi thở. Một chàng trai từ làng Ứng Luật sang tận Paris, và điều ông muốn tìm hiểu là làm sao để lời cầu nguyện của người Việt vẫn mang màu sắc Việt. Giáo sư Trần Văn Khê, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, từng kể rằng hồi cả hai cùng ở Pháp, Hải Linh hay đến hỏi ông về nhạc dân tộc.
Về nước năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu, ông dạy hợp ca ở Sài Gòn và lập nên ca đoàn Hồn Nước. Ca đoàn tập vào các ngày Chủ Nhật. Rồi đến tháng mười hai năm năm mươi bảy, ca đoàn ra mắt công chúng lần đầu ở Sài Gòn, do chính ông điều khiển. Theo tư liệu kể lại, hôm ấy là ngày hai mươi ba tháng mười hai, chỉ hai ngày trước lễ Giáng Sinh. Về tên rạp hát, các nguồn ghi khác nhau, có nguồn ghi rạp Olympic, có nguồn ghi rạp Thống Nhất.
Mình thích hình dung Sài Gòn những ngày cận Noel năm ấy. Phố xá bắt đầu treo đèn ngôi sao. Ở các xóm đạo, người ta dựng hang đá bằng giấy bồi, rắc bông gòn làm tuyết. Và trong một rạp hát giữa thành phố, một ca đoàn trẻ đứng thành nhiều hàng, hát nhiều bè, dưới tay một người nhạc trưởng vừa từ Paris về. Có lẽ với nhiều người ngồi nghe, đó là lần đầu họ biết một ca đoàn Việt có thể hát hay đến thế.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, ca đoàn hát trong một đại hội lớn mừng Đức Mẹ, và bài Kính Mừng Nữ Vương của ông đoạt giải nhất. Về sau, ông còn huấn luyện rất nhiều lớp ca trưởng, những người về lại xứ đạo của mình để tập hát cho ca đoàn. Có bài viết kể ông nghĩ ra cả vài trăm thế tay để điều khiển hợp xướng. Ông viết rằng nhịp phải thấm vào trong mạch máu, trong buồng tim của người ca trưởng.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, ông lập gia đình với bà Phạm Thị Ly ở Đà Lạt. Cũng năm ấy, ông phổ bài thơ Đà Lạt Trăng Mờ của thi sĩ Hàn Mặc Tử, để tặng vợ. Ca đoàn trình diễn bài này ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn, có dàn nhạc đệm do ông chỉ huy. Ông còn phổ một bài thơ dài khác của Hàn Mặc Tử là Ave Maria thành một trường ca hợp xướng. Ông bắt đầu viết từ khi còn ở Paris, và mãi ba mươi năm sau mới hoàn tất.
Ông cũng viết cả nhạc đời, phần lớn cho hợp xướng. Có bài Thằng Bờm, dựng từ câu ca dao quen thuộc về chú Bờm có cái quạt mo, viết tặng con trai. Có Chinh Phụ Ngâm, Tình Nước Non. Ông từng nói mục đích âm nhạc của mình gói trong một câu: tôn vinh Thiên Chúa và tán tụng quê hương.
Nghe những bài hợp xướng của ông, mình thấy giai điệu thường đi trước, mượt và có hơi hướm dân ca. Rồi các bè mới nối vào, quấn quýt nhau như mấy giọng người cùng kể một câu chuyện. Một vị giám mục từng nhận xét ông dùng kỹ thuật hòa âm hiện đại, mà vẫn giữ được bản sắc Việt. Ông thì khiêm tốn hơn nhiều. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói mình chỉ sàng tạc, tức là chọn lọc và gọt giũa từ những gì có sẵn, chứ không dám nhận là sáng tác.
Một chuỗi dài cô đơn
Những năm sau đó, đời ông có nhiều chặng đi xa. Ông từng sang Mỹ học thêm về âm nhạc và giáo dục. Từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi, ông về dạy nhạc ở Đà Lạt, thành phố của sương mù và rừng thông, nơi ông đã cưới vợ. Rồi có một quãng dài ông lặng lẽ ở quê nhà. Năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, ông sang sống ở Mỹ, đi qua nhiều tiểu bang để mở lớp ca trưởng và tập hát cho các ca đoàn người Việt.
Ở quê nhà, những bài hát của ông vẫn được hát mỗi mùa Noel. Khoảng đầu những năm tám mươi, khi linh mục nhạc sĩ Kim Long phổ bài thơ Say Noel của nhà thơ Xuân Ly Băng thành một bản hợp xướng bốn bè, Hải Linh là người viết phần phụ soạn. Hai thế hệ người viết thánh ca, một già một trẻ, cùng chung tay trên một bản nhạc Giáng Sinh. Mình thấy đó là một chi tiết rất đẹp.
Tháng bảy năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, ông điều khiển một ban hợp ca người Việt chừng tám mươi người tại một hội nghị thánh nhạc lớn ở Mỹ. Một năm sau, sau một buổi tập hát ở tiểu bang Louisiana, ông tâm sự với một người quen thân rằng đời ông là cả một chuỗi dài cô đơn. Nhưng ông nói thêm, chính nỗi cô đơn ấy cho ông một sức cảm thụ nghệ thuật mạnh mẽ. Người ấy về sau ghi lại lời ông trong một bài hồi ký.
Trong năm cuối đời, ông viết thêm những bài hát mừng một ngày lễ lớn của người Công giáo Việt Nam. Nhưng ông không kịp dự ngày lễ ấy. Ông mất ngày sáu tháng một năm một nghìn chín trăm tám mươi tám, vì một cơn nhồi máu cơ tim. Về nơi ông mất, các nguồn ghi khác nhau, có nguồn ghi bệnh viện ở Fountain Valley, có nguồn ghi Los Angeles. Ông được an táng ở Louisiana. Năm ấy, ông sáu mươi bảy tuổi.
Mình để ý một điều. Ông mất ngày sáu tháng một, chỉ mười hai ngày sau lễ Giáng Sinh. Nghĩa là mùa Noel cuối cùng của đời ông, ở đâu đó, chắc chắn đã có một ca đoàn đang hát Hang Bêlem.
Hải Linh để lại khoảng ba trăm tác phẩm, theo một trang tư liệu. Phần lớn là hợp xướng, nên ít người ngoài ca đoàn biết đến. Nhưng có một bài hát thì gần như ai cũng biết. Một bài hát được viết vội trong ba ngày, khắc trên gỗ, in trên một tờ báo nhỏ ở Nam Định, rồi đi qua hơn tám mươi mùa đông.
Đêm Noel năm nay, nếu bạn đi ngang qua một nhà thờ và nghe tiếng ca đoàn hát về một đêm đông lạnh lẽo, bạn hãy dừng lại một chút. Hãy nhớ tới một thầy giáo trẻ ở Phát Diệm năm nào, đứng trước ca đoàn, giơ tay bắt nhịp cho bài hát đầu tay của mình. Ông đã đi một đời cô đơn, nhưng bài hát của ông thì chưa bao giờ phải đứng một mình.
Tình Ca. Ở đây có bình an.