Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 50

Thẩm Oánh – Người đi tìm tri âm

Một tối ở rạp Olympia

Tối mười ba tháng chín năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, ở rạp Olympia, Hà Nội. Khán giả đến để xem một buổi chiếu phim. Nhưng trước khi màn ảnh sáng lên, trên sân khấu vang lên những bài hát mà khán giả chưa từng nghe. Bài hát bằng tiếng Việt, nhưng viết theo lối ký âm phương Tây, có nhịp, có hòa âm, khác hẳn những làn điệu chèo, tuồng, ca trù quen thuộc.

Một trong những bài hát tối hôm ấy có tên là Khúc Yêu Đương. Người viết là một thầy giáo trẻ hai mươi hai tuổi, tên Thẩm Oánh. Theo bài viết của nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha trên báo Người Lao Động, đó là một buổi biểu diễn do Hội Ánh Sáng tổ chức, có cả bài của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Nhiều người viết sử âm nhạc coi năm một nghìn chín trăm ba mươi tám là cái mốc khai sinh của tân nhạc Việt Nam.

Mình hay tưởng tượng cảm giác của những người ngồi dưới khán phòng tối ấy. Lần đầu tiên, họ nghe tiếng mẹ đẻ của mình được hát trên một giai điệu mới. Có lẽ có người thấy lạ tai, có người thấy thích, có người về nhà còn ngân nga mãi. Một thứ nhạc mới ra đời không ồn ào, chỉ bằng vài cây đàn và vài giọng hát trẻ.

Thẩm Oánh sống đến tám mươi tuổi. Các tư liệu ghi ông viết tới khoảng một nghìn bài hát. Phần lớn số ấy nay ít người còn nhớ. Nhưng câu chuyện đời ông thì vẫn còn đó, câu chuyện của một người cả đời đi tìm tri âm cho âm nhạc của mình.

Nhóm hoa lưu ly

Thẩm Oánh tên khai sinh là Thẩm Ngọc Oánh, sinh ngày mười bốn tháng tám năm một nghìn chín trăm mười sáu ở Hà Nội. Gia đình ông là một nhà có tiếng, mở hiệu thuốc tây ở khu Cửa Nam. Thuở nhỏ, ông học vỡ lòng với thầy đồ. Rồi ông học nhạc qua sách tiếng Pháp, qua các lớp nhạc và ở trường trung học.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, ông bắt đầu đi dạy nhạc. Có tư liệu ghi ông từng dạy ở hai ngôi trường trung học lớn của Hà Nội thời ấy là trường Chu Văn An và trường Trưng Vương. Cũng năm ấy, ông cùng mấy người bạn lập nên một nhóm nhạc lấy tên là Myosotis.

Myosotis là tên tiếng Latin của hoa lưu ly, loài hoa nhỏ màu xanh mà người phương Tây gọi là hoa xin đừng quên tôi. Một cái tên rất hợp với mấy chàng trai mê nhạc, mong những bài hát của mình được người ta nhớ. Nhóm có Dương Thiệu Tước, Nguyễn Thiện Tơ và Thẩm Oánh. Các tư liệu kể thêm những người khác, có nguồn nhắc Vũ Khánh, có nguồn nhắc cô Anh Đào chơi dương cầm.

Có tư liệu kể rằng nhóm thành hình từ những buổi đàn hát ở nhà cô Anh Đào trên phố Huế. Ban đầu chỉ là bạn bè quây quần với nhau, rồi dần dần mới đem ra biểu diễn trước công chúng ở các rạp Majestic, Olympia, Palace. Thẩm Oánh chơi đàn mandolin, một cây đàn nhỏ có tiếng trong và rung, và lo phần thanh nhạc. Theo báo Thanh Niên, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ cùng bạn bè lập nhóm một phần vì học phí học đàn với một thầy giáo người nước ngoài quá đắt, nên mấy người rủ nhau tự học cùng nhau.

Bài Khúc Yêu Đương, theo các tư liệu, là bài đầu tay của ông. Nhạc sĩ Phạm Duy về sau nhận xét giai điệu bài này có nét ngũ cung, tức chỉ dùng năm nốt chính, là Đô, Rê, Fa, Sol, La. Năm nốt ấy rất gần với tai người Việt, vì các làn điệu dân ca của mình cũng hay dựa trên những thang âm năm nốt như thế.

Chi tiết nhỏ ấy cho thấy một điều lớn. Ngay từ bài đầu tiên, Thẩm Oánh đã không muốn chép nguyên lối nhạc phương Tây. Ông muốn bài hát mới vẫn phải nghe như của người Việt. Và ông sẽ mất nhiều năm để nói điều đó thành lời.

Nhạc mới mà hồn xưa

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, Thẩm Oánh đứng nói chuyện ở Hội Trí Tri, một hội học thuật nổi tiếng của Hà Nội thời ấy, về việc cải cách âm nhạc. Theo các tư liệu, chủ trương của ông có thể gói trong một câu: nhạc cải cách phải theo ý nhạc Việt Nam, và phải có cảm tưởng thuần túy Á Đông. Ông chọn đi con đường ở giữa, không bỏ cái mới, nhưng cũng không bỏ cái hồn cũ.

Ông cùng Dương Thiệu Tước lập Hội Khuyến Nhạc, một hội để cổ động và phổ biến tân nhạc. Ông làm phó hội trưởng, và làm chủ bút tờ Khuyến Nhạc, ra mỗi tháng hai kỳ. Một thầy giáo trẻ, vừa viết nhạc, vừa viết báo, vừa đi nói chuyện, để thuyết phục người ta rằng bài hát mới cũng có thể rất Việt.

Cái chủ trương ấy hiện rõ nhất ở những đề tài ông chọn. Ông viết Vợ Chồng Ngâu, từ tích Ngưu Lang Chức Nữ, đôi vợ chồng mỗi năm chỉ gặp nhau một lần qua cây cầu chim ô thước, để lại cơn mưa ngâu tháng bảy. Ông viết Thiếu Phụ Nam Xương, từ tích nàng Vũ Nương bị chồng nghi oan, cái tích mà người Việt nào đi học cũng biết. Ông viết Hồ Xưa, Xuân Về, Nhớ Nhung, những bài mà nghe tên đã thấy một không khí êm đềm.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, ông viết bài A Di Đà Phật, được cất lên ở chùa Quán Sứ, Hà Nội. Ông còn có tám bài hát về đạo Phật, đem nhạc mới vào cả cửa chùa. Rồi ông viết những vở nhạc kịch, như Quán Giang Hồ, Bá Nha Tử Kỳ.

Mình dừng lại một chút ở Bá Nha Tử Kỳ. Đây là tích xưa về Bá Nha, một người đánh đàn giỏi, và Tử Kỳ, một anh tiều phu nghe tiếng đàn mà hiểu hết tâm sự người đánh. Khi Tử Kỳ mất, Bá Nha đập vỡ cây đàn, vì không còn ai hiểu tiếng đàn mình nữa. Từ tích ấy mà người mình có chữ tri âm, nghĩa là người hiểu được tiếng lòng. Một người cả đời đi thuyết phục người khác nghe nhạc mới, lại chọn đúng câu chuyện về tri âm để viết, mình nghĩ không phải chuyện ngẫu nhiên.

Nghe nhạc Thẩm Oánh hôm nay, mình thấy nó chậm, trang nhã, câu nhạc giản dị, ít khi lên cao chót vót. Nó gần với lối hát của một thầy giáo đứng giữa lớp hơn là một ca sĩ trên sân khấu lớn. Có thể với tai người nghe bây giờ, nó hơi xưa. Nhưng chính cái xưa ấy là dấu vết của những bước chân đầu tiên, khi người Việt còn đang tập viết bài hát bằng tiếng của mình.

Tôi bán đường tơ

Thẩm Oánh còn có một bài hát mà nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha gọi là lời tự thuật về đời ông. Bài ấy tên là Tôi Bán Đường Tơ. Đường tơ là sợi dây đàn. Bán đường tơ, tức là đem tiếng đàn của mình đi cho người ta nghe, như một người hàng rong đi khắp phố phường. Một hình ảnh vừa khiêm nhường, vừa có chút tự trào, rất hợp với một người cả đời làm thầy dạy nhạc.

Ông có một người bạn đời cũng là nhạc sĩ, bà Anh Đào. Các tư liệu ghi họ của bà khác nhau, có nguồn ghi là Tô Anh Đào, có nguồn ghi là Trần Anh Đào, em họ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Có nguồn ghi hai người thành vợ chồng năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám. Vậy là người bạn chơi đàn trong những buổi tối ở phố Huế năm nào đã trở thành người đi cùng ông suốt đời.

Mùa hè năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, ông ngồi ghế giám khảo một cuộc thi hát trên đài phát thanh ở Hà Nội. Giải nhất về tay Thanh Hằng, giải nhì là Trần Ngọc, giải ba là Trần Hiếu. Chàng trai Trần Ngọc năm ấy về sau trở thành nhạc sĩ Tuấn Khanh. Một người thầy ngồi nghe những giọng hát trẻ, những người rồi sẽ đi tiếp con đường ông đã mở.

Rồi ông vào sống ở Sài Gòn. Ở đây, ông tiếp tục làm nghề của mình: điều hành một trường ca vũ nhạc, dạy ở trường âm nhạc, phụ trách văn nghệ cho đài phát thanh. Có một chi tiết dễ thương. Nữ diễn viên Thẩm Thúy Hằng, tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng, đã lấy họ Thẩm của ông đặt vào nghệ danh, vì quý trọng ông.

Những năm sau, ông chuyển sang dạy tiếng Pháp ở một số trường trung học. Năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, ông sang sống ở Mỹ. Năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, học trò của ông tổ chức một đêm nhạc ở thủ đô Washington, mừng thầy tròn sáu mươi năm với âm nhạc, và in một tuyển tập nhạc của thầy, đặt tên là Nhớ Nhung.

Mình thấy chi tiết ấy rất đẹp. Một người thầy, khi đã ngoài bảy mươi, sống xa quê, được chính học trò của mình đứng ra hát lại những bài hát cũ. Người bán đường tơ cả một đời, cuối cùng đã có những người tri âm. Họ không phải ai xa lạ, mà là những người đã từng ngồi trong lớp nhạc của ông.

Thẩm Oánh mất năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, thọ tám mươi tuổi.

Hôm nay, có lẽ ít ai còn ngân nga được một câu nào của Thẩm Oánh. Nhưng mỗi lần mình nghe một bài hát mới mà vẫn thấy hồn Việt trong đó, mình nhớ tới cái tối năm ba mươi tám ở rạp Olympia. Nhớ tới mấy chàng trai đặt tên nhóm nhạc theo một loài hoa có nghĩa là xin đừng quên. Và nhớ tới một người thầy cả đời đem tiếng đàn đi khắp nơi, chỉ mong gặp người hiểu được nó.

Tình Ca. Ở đây có bình an.