Những người viết nên Tình Ca · Tập 48
Văn Chung – Tiếng sáo đồng quê buổi đầu
Bên khung dệt của mẹ
Một gian nhà nhỏ ở làng ven Hà Nội, những năm hai mươi của thế kỷ trước. Người mẹ ngồi bên khung dệt thảm, tay đưa thoi, miệng ngâm Kiều. Lúc thì bà hát ru, lúc thì bà ngâm Chinh phụ ngâm, ngâm Lục Vân Tiên. Bên cạnh, một cậu bé ngồi im mà nghe.
Người cha của cậu giỏi chữ Nho, nhưng đôi mắt đã lòa. Ông dạy con học Tam tự kinh bằng trí nhớ. Mọi gánh nặng trong nhà dồn lên vai người mẹ, và những câu ngâm, câu ru của bà là thứ âm nhạc đầu tiên đi vào tai cậu bé.
Cậu bé ấy tên là Mai Văn Chung. Sau này, người ta biết ông với cái tên Văn Chung, một trong những người viết tân nhạc đầu tiên của Việt Nam. Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nhạc của ông, ngay từ bài hát đầu tay, đã có cái giọng của làng quê, của tiếng ru, của câu hát mà người mẹ ngân nga bên khung cửi.
Mình kể chuyện người mẹ trước tiên, vì cả đời Văn Chung, dù đi đâu, học gì, ông vẫn quay về với cái giọng ấy. Ông học nhạc Tây, chơi nhạc khiêu vũ, viết điệu tango. Nhưng bên dưới tất cả, vẫn là một cậu bé ngồi nghe mẹ ngâm Kiều.
Ông sinh ngày hai mươi tháng sáu năm một nghìn chín trăm mười bốn. Quê gốc ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, có nơi ghi là Phù Tiên, tên gọi một thời của vùng đất ấy.
Người học nhạc bằng đủ mọi cánh cửa
Nhà nghèo, cha lòa, nên cậu bé Chung được một người cậu ruột nhận về nuôi và cho đi học ở Hà Nội. Ở nhà cha nuôi, cậu học đàn thập lục, đàn tam, học những bản nhạc cổ, những điệu xẩm, điệu chèo. Đó là cánh cửa thứ nhất.
Cánh cửa thứ hai là trường học. Ở trường, cậu được nghe dân ca Pháp, được hát những bài ca của phong trào hướng đạo. Cậu tự mày mò học đàn măng đô lin, một cây đàn nhỏ có tám dây, tiếng trong và rung như tiếng mưa rơi trên mái tôn.
Cánh cửa thứ ba thì cậu phải tự mở. Ở khu Đấu xảo của Hà Nội ngày ấy có một nhạc viện của người Pháp. Nhạc sĩ Nguyễn Thị Minh Châu, trong bài viết trên trang Hội Nhạc sĩ Việt Nam, kể rằng Văn Chung đã tự tìm đến đó. Ông học xướng âm, đọc sách lý thuyết, làm quen với nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên, có khi đứng xem cả lớp múa ba lê của trẻ con.
Để sống, ông làm nghề in. Ban đêm, ông chơi đàn măng đô lin và đàn công bát, cây đàn dây lớn nhất trong dàn nhạc, ở những phòng khiêu vũ của Hà Nội. Ngồi trong dàn nhạc khiêu vũ đêm này qua đêm khác, ông thuộc lòng những điệu nhạc Tây đang thịnh hành thời ấy.
Bạn thử hình dung một chàng trai đôi mươi như thế. Ban ngày lấm lem mực in. Ban đêm ôm cây đàn công bát trong ánh đèn phòng nhảy. Về nhà lại nghe mẹ ngâm Kiều. Ba thế giới âm nhạc ấy gặp nhau trong một con người, và chỉ chờ một lúc nào đó để hòa lại thành bài hát.
Lúc ấy đến vào năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm.
Tiếng sáo mục đồng và bóng ai qua thềm
Năm hai mươi mốt tuổi, Văn Chung viết bài hát đầu tay: Tiếng sáo mục đồng, có nơi gọi là Tiếng sáo chăn trâu. Bài hát dựa trên không khí và nét nhạc của làn điệu quan họ Bắc Ninh Xe chỉ luồn kim. Sau này ông còn viết lại lời, đặt tên là Tiếng oanh vàng.
Bạn nghĩ xem, một chàng trai đêm đêm chơi nhạc Tây trong phòng khiêu vũ. Vậy mà bài hát đầu tiên của anh lại là một cậu bé chăn trâu thổi sáo trên đồng, theo một câu quan họ cổ. Nhạc sĩ Thẩm Oánh, một người cùng thời, khi được nhạc sĩ Lê Thương dẫn lời trong sách, có nhận xét rằng nhạc Văn Chung ngay từ đầu đã mang nét Á Đông.
Rồi những bài hát khác nối nhau ra đời. Năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu là Cười trong nắng xuân. Rồi Bên hồ liễu và Khúc ca ban chiều. Năm một nghìn chín trăm ba mươi tám là Thiếu phụ hoài xuân. Những cái tên ấy nghe đã thấy cái lãng mạn mơ màng của tuổi trẻ: hồ nước, liễu rủ, nắng xuân, buổi chiều.
Năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, ông viết Bóng ai qua thềm. Lần này ông mượn điệu tango habanera. Habanera là một điệu nhạc sinh ra ở thành phố Havana, xứ Cuba, nhịp chậm, đung đưa, có một cái nhấn đặc biệt ở đầu mỗi ô nhịp, như bước chân ai ngập ngừng trước cửa.
Nghe Bóng ai qua thềm, bạn sẽ thấy cái nhịp ấy hợp với tên bài đến lạ. Một bóng người lướt qua bậc thềm, người trong nhà nhìn theo mà không dám gọi. Giai điệu đi chậm, nhẹ, có chút bâng khuâng. Đó là chàng trai từng ngồi chơi đàn công bát trong phòng khiêu vũ, giờ đem cái nhịp đung đưa của những đêm ấy vào một khung cảnh rất Việt Nam: mái hiên, bậc thềm, và một nỗi thương thầm.
Khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, bốn mươi, ông cùng hai người bạn là nhạc sĩ Lê Yên và nhạc sĩ Doãn Mẫn lập ra Tricéa. Vốn là thợ in, ông cùng các bạn in và phát hành bản nhạc của mình và của nhiều người khác, dạy nhạc, tổ chức hòa nhạc. Nhiều nguồn coi Tricéa là nhà xuất bản âm nhạc đầu tiên của Việt Nam.
Theo lời nhạc sĩ Lê Thương kể lại, nhóm không giữ được lâu và sớm tan. Nhưng chỉ trong một quãng ngắn, ba người thợ in mê nhạc ấy đã giúp những bản tân nhạc đầu tiên đến được tay người hát, bằng những trang giấy in rõ ràng, đẹp đẽ.
Rồi tuổi trẻ mơ màng ấy khép lại. Và cuộc đời đưa ông về rất gần với những cánh đồng.
Đếm sao, đối đáp và những bài ca cho trẻ nhỏ
Những năm sau, Văn Chung đi nhiều, sống nhiều nơi, xa gia đình. Có một nỗi đau mà ông mang theo: đứa con gái nhỏ của ông mất đi khi ông đang ở xa. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy, trong một đêm sau khi nhận tin, ông viết bài Đếm sao.
Bài hát lấy hình ảnh từ cách người cha dạy con đếm sao theo lối đồng dao, một ông sao, hai ông sao. Một trò chơi rất trẻ con, rất bình thường. Nhưng khi người viết là một người cha vừa mất con, thì từng ngôi sao đếm được lại là một lần nhớ. Mình nghĩ, đó là một trong những bài hát buồn nhất mà lại được viết bằng những chữ hồn nhiên nhất.
Từ đây, nhạc Văn Chung gắn với đồng ruộng và người nông dân. Người ta gọi ông là nhạc sĩ của dân cày. Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, ông viết Gái thôn Đoài, trai thôn Thượng, lời của Phạm Huyền. Bài hát dùng lối đối đáp như hát giao duyên, dùng thang năm âm của dân ca, nghe như trai gái hai thôn đang hát trêu nhau qua một con đê.
Rồi đến Tính hẹn cùng Tình năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, và Ba cô gái đảm năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu. Theo trang Hội Nhạc sĩ, lời hai bài này là của Phạm Ngọc Vị. Những bài hát ấy được thanh niên nông thôn rất thích. Bạn để ý sẽ thấy ông hay đặt tên nhân vật bằng chính những chữ rất thường như Tính, như Tình, như một người trong làng mà ai cũng quen mặt.
Và ông viết rất nhiều cho trẻ con. Năm một nghìn chín trăm năm mươi chín là Lượn tròn lượn khéo. Báo VietnamPlus nhận xét những bài hát thiếu nhi của ông vui, dễ nhớ, chỉ xoay quanh vài nét nhạc nhắc đi nhắc lại. Đó là cái khéo của người hiểu trẻ con: một câu nhạc ngắn, lặp lại vài lần, là đứa trẻ hát theo được ngay.
Nghe kỹ, bạn sẽ thấy cả hai mảng ấy có chung một gốc. Câu đối đáp của trai gái thôn Đoài, câu đồng dao đếm sao, câu hát cho em bé lượn tròn, đều là những thứ người mẹ ông đã hát bên khung dệt năm xưa. Ông chỉ nhặt chúng lên, sắp lại, và trao cho những người hát mới.
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi tư, ông được giao trông coi Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam. Người thợ in tự học nhạc ngày nào, giờ đứng đầu một nhà hát có dàn nhạc giao hưởng và vũ đoàn ba lê, đúng cái thế giới mà ngày trẻ ông từng đứng ngoài cửa nhạc viện ngó vào.
Người hát bên giường bệnh
Người quen kể Văn Chung là người vui tính, hay đàn hát, hay kể chuyện tiếu lâm cho bạn bè nghe. Bài viết trên trang Hội Nhạc sĩ có ghi lại một chuyện. Có lần, ở một nơi không có thuốc mê, ông ngồi bên giường mà đàn hát suốt một ca mổ, để người bị thương bớt đau, bớt sợ.
Mình đọc chuyện ấy mà cứ nghĩ mãi. Âm nhạc với ông không phải để trình diễn. Âm nhạc là một cách ngồi cạnh người khác trong lúc họ khó khăn nhất. Giống như tiếng ru của người mẹ bên khung dệt, ru cho con ngủ trong những ngày nhà nghèo.
Về cuối đời, chính ông lại nằm trên giường bệnh. Ông bị liệt nửa người. Nhưng ông vẫn sáng tác, nằm mà viết nhạc trong đầu, khi tay không còn cầm bút được như xưa.
Văn Chung mất ngày hai mươi bảy tháng tám năm một nghìn chín trăm tám mươi tư, tại Hà Nội, hưởng thọ bảy mươi tuổi. Ông để lại những bài tân nhạc thuở ban đầu, những bài ca đồng ruộng, và rất nhiều bài hát cho trẻ con.
Hôm nay, có thể nhiều người không còn nhớ tên ông. Nhưng ở đâu đó, một đứa trẻ vẫn hát một bài ca vài nốt nhạc lặp đi lặp lại. Một nhóm bạn trẻ vẫn tìm lại Bóng ai qua thềm để nghe cái nhịp habanera đung đưa của Hà Nội ngày xưa. Và mỗi lần ai đó ngồi đếm sao cùng con, có lẽ cũng là đang lặp lại một bài hát cũ mà không biết.
Văn Chung dạy cho mình một điều giản dị: muốn viết cái mới, đừng quên tiếng ru cũ. Cái mới của ông đi rất xa, sang tận Havana, sang tận phòng khiêu vũ, nhưng nó luôn tìm được đường về bên khung dệt của mẹ.
Tình Ca. Ở đây có bình an.