Những người viết nên Tình Ca · Tập 47
Phó Đức Phương – Cây ổi, dòng sông và đỉnh mây
Bản nhạc viết bút chì trong đống giấy vụn
Giữa những năm sáu mươi. Một người anh, trong lúc dọn dẹp, nhặt được trong đống giấy vụn một tờ nhạc viết bằng bút chì. Nét chữ quen quen. Anh cầm tờ giấy đi hỏi cậu em trai: cái này ai viết. Cậu em đáp gọn: vâng, em viết.
Người anh ấy là nhạc sĩ Phó Đức Vạn, một trong những người viết nhạc đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Còn cậu em là Phó Đức Phương, khi ấy hai mươi hai tuổi, vừa mới bước chân vào trường nhạc. Tờ giấy bút chì kia là bài Những cô gái quan họ.
Theo lời kể trên báo Sài Gòn Giải Phóng, người anh đưa bài hát cho ban biên tập đài. Chưa đầy một tháng sau, bài hát đã được phát đi rộng rãi, và rất nhiều người thuộc. Một bài hát suýt nữa đã nằm lại trong sọt rác, rồi trở thành bài hát mở đầu cho cả một đời làm nhạc.
Mình mở đầu bằng chuyện tờ giấy bút chì, vì nó giống tính cách của Phó Đức Phương. Ông viết vì thấy cần viết, viết xong thì để đó, không vội đem đi khoe. Nhưng những gì ông viết ra thì lại có sức sống riêng, cứ thế mà tự đi tìm người nghe.
Và để hiểu vì sao một chàng trai Hà Nội lại viết được về quan họ thấm đến như thế, mình phải về lại hai miền quê của ông.
Hai miền quê và một cành ổi
Phó Đức Phương sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn. Quê nội ông ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, bên bờ sông Hồng. Quê ngoại ở Bắc Ninh, đất của những làn điệu quan họ. Báo Tuổi Trẻ khi viết về ông có nói một điều rất đúng: hai miền quê ấy thấm vào nhạc ông sâu đến mức nghe là nhận ra.
Đường đến với âm nhạc của ông không thẳng. Ông từng học khoa Toán ở trường Đại học Sư phạm, rồi bỏ dở vì gia cảnh khó khăn. Có một thời gian ông lên nông trường Cửu Long ở Hòa Bình làm nông trường viên. Đến năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu, ông mới thi vào Trường Âm nhạc Việt Nam.
Một người học toán rồi chuyển sang học nhạc. Mình nghĩ cái nền toán học ấy không mất đi đâu cả. Sau này các nhà phê bình hay nói nhạc ông có cấu trúc rất chặt, giai điệu đi đâu về đâu đều có tính toán, nhưng nghe lên thì vẫn mềm và tự nhiên như dân ca.
Bài Những cô gái quan họ ra đời trong khoảng thời gian chờ nhập học. Về chỗ ông ngồi viết, có hai lời kể. Báo Tiền Phong nói ông viết trong lúc chờ vào lớp ở nơi trường nhạc đặt khi ấy, thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang ngày nay. Báo Sài Gòn Giải Phóng thì kể ông ngồi trên một cây ổi ở Thuận Thành, Bắc Ninh, nhìn ra cánh đồng mà viết.
Mình thích hình ảnh cây ổi hơn, nhưng mình không dám chọn thay bạn. Chỉ biết rằng ở đâu thì chàng trai ấy cũng đang ở giữa vùng quan họ, có cánh đồng, có làng mạc, có những cô gái áo mớ ba mớ bảy.
Điều đáng nói là bài hát không mượn nguyên một làn điệu quan họ cổ nào. Nhà nghiên cứu Trương Quang Lục từng nhận xét như vậy. Giai điệu là của riêng ông, nhưng cái hồn thì đúng là hồn Kinh Bắc. Nghe bài hát, bạn sẽ thấy những chỗ luyến láy mềm mại, những câu hát đưa đẩy như lời mời trầu, lời giao duyên. Đó là quan họ được kể lại bằng tiếng nói của một người trẻ thế hệ mới.
Từ bài hát đầu tay ấy, Phó Đức Phương bắt đầu đi. Và ông đi theo những dòng nước.
Những mặt hồ và những dòng sông
Khoảng đầu những năm bảy mươi, ông nhận viết nhạc cho một bộ phim tài liệu về sông nước quê hương. Ông lên Lục Ngạn, Bắc Giang, đi thuyền trên hồ Cấm Sơn. Theo báo Tiền Phong, phần lớn bài hát được ông viết ngay trên thuyền. Đó là bài Hồ trên núi.
Bài hát được nghệ sĩ Quang Phác hát đầu tiên và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Bạn nghe sẽ thấy ông dùng lối điệp chữ, nhắc đi nhắc lại một hình ảnh như sóng nước vỗ vào mạn thuyền, rồi đẩy giai điệu lên cao như núi vây quanh mặt hồ. Nhiều năm sau, có lần ông về Lục Ngạn, một người con của vùng đất ấy đứng dậy xin được hát tặng ông chính bài này, vì đó là bài hát về quê hương mình.
Năm một nghìn chín trăm tám mươi hai, ông viết Huyền thoại hồ Núi Cốc, về một hồ nước ở Thái Nguyên. Bài hát dựa trên truyện kể dân gian về một đôi trai gái không lấy được nhau, người hóa thành núi, người hóa thành sông. Một chuyện buồn, nhưng qua giai điệu có màu quan họ của ông, nó trở thành một lời ru dịu dàng về sự thủy chung.
Hai năm sau là Một thoáng Tây Hồ. Lần này ông tìm đến ca trù, cái lối hát cổ của đất Thăng Long với tiếng phách và tiếng đàn đáy. Giai điệu có gì đó huyền hoặc, mờ ảo như sương trên mặt hồ buổi sớm. Một người viết nhạc nhẹ mà dám mang ca trù vào bài hát, vào thời ấy, là một việc không đơn giản.
Bạn để ý sẽ thấy, nhạc Phó Đức Phương hầu như lúc nào cũng có nước. Hồ trên núi, hồ Núi Cốc, hồ Tây, rồi sau này là sông Hồng, sông Tương. Có lẽ vì ông lớn lên bên bờ sông quê Văn Giang, nên với ông, nước là ký ức, là tình yêu, và là cách để thời gian chảy qua.
Nhạc sĩ Trần Lệ Chiến có nhận xét rằng nhạc ông thường có những quãng nhảy gãy gọn, góc cạnh, đòi người hát phải có nghề. Nghe thì mềm như dân ca, nhưng hát thì không dễ chút nào. Đó là cái chỗ giao nhau giữa dân gian và bác học mà ông đã đi suốt đời.
Và rồi, đến giữa những năm chín mươi, dòng nước ấy chảy ra một bài hát mà hầu như ai cũng biết.
Trên đỉnh mây, bên dòng sông, về quê
Khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, đạo diễn Lê Hùng và nhà văn Nguyễn Khắc Phục mời ông viết nhạc cho vở kịch Yêu trên đỉnh Phù Vân của Đoàn kịch Hải Phòng. Bài hát ra đời là Trên đỉnh Phù Vân. Năm sau, ca sĩ Mỹ Linh hát bài này và nó bay đi rất xa.
Trên đỉnh Phù Vân là một bài hát về khát khao tình yêu. Nhịp điệu cứ lúc nhanh lúc chậm, lúc dồn dập lúc buông lơi, như một người đi lên núi cao, có lúc thở dốc, có lúc dừng lại ngắm mây. Màu sắc dân gian vẫn còn đó, nhưng đã được khoác một lớp áo rất đương đại. Về sau có nhiều giọng hát khác hát bài này, nhưng ông từng nói Mỹ Linh là người hát đúng tinh thần của nó nhất.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, đạo diễn Trọng Khôi mời ông viết nhạc cho vở Thuyền lá. Bài hát Chảy đi sông ơi ra đời từ đó. Câu chuyện là một người con trai mất người yêu, đau khổ tìm ra bờ sông, rồi được chính sự mênh mông của dòng sông làm cho lòng dịu lại. Một bài hát buồn, nhưng cuối cùng lại là một lời an ủi.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, Nhà hát Quan họ Bắc Ninh đặt ông viết một bài cho một kỳ liên hoan. Bài ấy là Về quê. Báo Tiền Phong kể rằng trong lúc viết, ông nhiều lần phải dừng lại lau nước mắt. Ông coi lời đặt hàng ấy như một tiếng gọi của lòng mình, vì đó là quê ngoại.
Về quê là một bài hát đầy hình ảnh làng quê đồng bằng Bắc Bộ: con đường làng, mái đình, cây đa, những người thân đã cũ. Giai điệu không cầu kỳ. Nó như một người đi xa lâu ngày, đứng ở đầu làng, đọc thầm tên từng thứ quen thuộc. Mình nghĩ nhiều người nghe bài này mà rưng rưng, là vì người viết ra nó cũng đã rưng rưng như thế.
Còn có một bài ông viết không theo đơn đặt hàng nào, khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, sau một chuyến về Bắc Ninh. Đó là Khúc hát phiêu ly, lấy cảm hứng từ sông Tương và truyện tiếng sáo Trương Chi, Mỵ Nương. Giai điệu mạnh, nhịp điệu không đều, nghe như một người đang đi lạc giữa mơ và thực. Ông quý bài này lắm, và từng nói với báo rằng ông rất hài lòng với giọng hát Minh Thu.
Khúc hát cuối cùng
Từ năm hai nghìn lẻ hai, ông cùng nhiều nhạc sĩ lập ra Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, và làm giám đốc ở đó suốt mười sáu năm. Đó là một việc lặng lẽ, để những người viết nhạc được trả công cho bài hát của mình. Trong những năm ấy, ông gần như gác bút.
Năm hai nghìn mười tám, ông nghỉ việc ở trung tâm và quay lại viết. Ông viết những bài về trò chơi tuổi thơ như Nu na nu nống, Chi chi chành chành. Ông viết Mênh mang một khúc sông Hồng, lấy cảm hứng từ con sông chảy qua quê nội Văn Giang. Một người đã ngoài bảy mươi tuổi, lại ngồi viết về những câu đồng dao thuở bé và dòng sông quê nhà.
Đầu năm hai nghìn hai mươi, ông phát hiện mình bị ung thư tụy. Báo VnExpress kể rằng ông nói với các bác sĩ cứ nói thẳng ra. Ông bảo mình chỉ coi đây là một thử thách trong đời, chỉ không ngờ nó kéo dài lâu đến thế.
Ngày mười tháng bảy năm ấy, bạn bè và học trò tổ chức đêm nhạc Khúc hát phiêu ly tại Nhà hát Lớn Hà Nội để động viên ông. Ông không đến được. Ông gửi lời nhắn tới khán giả, báo Tuổi Trẻ có ghi lại: rất chắc chắn tôi sẽ trở lại, các bạn đợi tôi nhé.
Trưa ngày mười chín tháng chín năm hai nghìn hai mươi, Phó Đức Phương ra đi, hưởng thọ bảy mươi sáu tuổi. Ông được an táng ở Công viên nghĩa trang Thiên Đức, Phú Thọ. Nhạc sĩ Trần Tiến, trong lời tiễn bạn, nhắc đến người vợ xinh đẹp của ông và người con làm nhạc giỏi hơn cả cha. Cả ba người con của ông đều theo nghề nhạc.
Ông đã không trở lại như lời hứa. Nhưng mình nghĩ, theo một cách nào đó, ông vẫn giữ lời. Mỗi lần có ai hát Về quê, hát Trên đỉnh Phù Vân, hát Những cô gái quan họ, là chàng trai ngồi trên cành ổi năm nào lại trở về, nhìn ra cánh đồng Kinh Bắc.
Điều còn lại cho chúng ta hôm nay, có lẽ là một cách nhìn quê hương. Quê hương không chỉ là chuyện cũ để hoài niệm. Quê hương có thể được hát lên bằng một giọng rất mới, rất hiện đại, mà vẫn giữ nguyên cái hồn của mái đình, dòng sông, câu quan họ. Phó Đức Phương đã làm được điều đó, bằng cả một đời.
Tình Ca. Ở đây có bình an.