Những người viết nên Tình Ca · Tập 46
Nguyễn Đức Toàn – Người nghe được màu sắc
Ngôi nhà ở phố Huế
Ở số sáu mươi mốt phố Huế, Hà Nội, có một ngôi nhà mà trong đó, người cha làm nghề tạc tượng. Mình hình dung căn nhà ấy có mùi gỗ, mùi thạch cao, có những khối tượng đang dần thành hình người. Còn các con của ông thì gần như ai cũng mê nhạc.
Người cha ấy là nhà điêu khắc Nguyễn Đức Thục, một cái tên có tiếng trong giới tạo hình nửa đầu thế kỷ hai mươi. Và một trong những người con, sinh ngày mười tháng ba năm một nghìn chín trăm hai mươi chín, là Nguyễn Đức Toàn.
Theo báo Tuổi Trẻ, hầu hết anh chị em trong nhà ông đều làm nghề âm nhạc. Còn ông thì được thừa hưởng cả hai thứ: đôi mắt của người cha, và đôi tai của cả nhà.
Có một chi tiết mình đọc được trên báo Nhân Dân mà mình rất thích. Như nhiều nhạc sĩ cùng thế hệ, ông không được học nhạc bài bản từ nhỏ. Âm nhạc đến với ông đầu tiên qua những bài thánh ca ông nghe được ở nhà thờ.
Mình hình dung một cậu bé Hà Nội đứng ở cửa nhà thờ, nghe tiếng hát vang lên dưới mái vòm cao. Không ai dạy cậu nốt nhạc là gì. Cậu chỉ nghe, và nhớ. Và có lẽ từ những giai điệu trong trẻo ấy, cậu học được rằng một câu hát có thể làm lòng người lắng xuống.
Nhưng thứ ông học bài bản đầu tiên lại là hội họa. Những năm bốn mươi, ông theo học các lớp dự bị ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ngôi trường mỹ thuật danh tiếng ở Hà Nội thời ấy. Cùng học với ông có hai người về sau cũng vừa vẽ vừa viết nhạc: Văn Cao và Nguyễn Đình Phúc.
Nhà phê bình Quang Việt về sau nhận xét rằng chỉ có ba nhạc sĩ Việt Nam thực sự coi hội họa là nghề thứ hai của mình: Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc, và Nguyễn Đức Toàn. Ông viết: họ thực sự là những họa sĩ.
Vậy là ngay từ đầu, đời ông đã có hai con đường song song. Một con đường đi bằng tai. Một con đường đi bằng mắt. Mình kể con đường âm nhạc trước nhé.
Bài hát về miền trung du
Ông viết bài hát đầu tiên năm mười sáu tuổi. Năm sau đó, ông theo một đoàn kịch cùng với nhạc sĩ Đỗ Nhuận, rồi những năm tiếp theo, ông làm việc trong các đoàn văn nghệ ở vùng Việt Bắc. Ông vừa viết nhạc, vừa vẽ minh họa, vừa trình bày báo.
Những năm đó, chàng trai phố Huế sống giữa núi đồi trung du. Chắc ông đã quen với những ngọn đồi thấp, những nương chè, những con đường đất quanh co. Và từ đó ra đời bài hát làm nên tên tuổi ông: Quê em miền trung du, người ta cũng hay gọi gọn là Quê em.
Mình nghĩ có một điều rất đẹp ở đây. Người viết Quê em không phải người trung du. Ông là người Hà Nội. Vậy mà ông viết về miền đồi ấy bằng một tình cảm như của người con gái sinh ra ở đó, gọi nơi ấy là quê em. Có lẽ vì ông nhìn bằng mắt một người vẽ: thấy được màu xanh của đồi, màu đất, màu áo người đi nương.
Bài hát đi xa hơn mọi người nghĩ. Nhiều tờ báo nhắc lại rằng hai giọng ca Thái Thanh và Thái Hằng đã hát song ca bài Quê em, và tiếng hát ấy được phát trên làn sóng phát thanh. Hai giọng nữ trong trẻo, quấn quýt, hát về một miền quê đồi núi, đến tai người nghe ở khắp nơi.
Nghe Quê em, mình thấy giai điệu mềm mại, đi lên đi xuống nhẹ nhàng như dáng đồi. Không có những quãng vút lên gắt gỏng. Câu nhạc thong thả, gần với lời ru, với câu hò. Nó dễ hát, dễ thuộc, nhưng hát cho hay thì phải hát bằng giọng thật hiền.
Giữa những năm năm mươi, ông viết Mời anh đến thăm quê tôi. Báo chí gọi đây là một bước chuyển trong sáng tác của ông. Cái tên bài hát đã nói lên tính cách của nó: một lời mời rất mộc mạc, rất hiếu khách, như người nhà quê mở cổng mời khách vào chơi.
Rồi ông còn muốn học thêm. Ông muốn biết âm nhạc có thể đi xa đến đâu, rộng đến đâu. Và thế là ông lên đường sang một đất nước rất xa, ở tuổi gần bốn mươi.
Từ cây vĩ cầm đến bến cảng chiều
Từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám đến năm một nghìn chín trăm bảy mươi, ông học ở Nhạc viện Kiev, thuộc Ukraina. Một người đã gần bốn mươi tuổi, đã có những bài hát cả nước biết, lại ngồi vào ghế học trò.
Ở đó, ông viết những tác phẩm không lời, những bản nhạc chỉ có tiếng đàn. Một bản sonate cho vĩ cầm, tức là một tác phẩm nhiều chương viết cho cây đàn violin, đã được biểu diễn ở Mát xcơ va. Ông còn viết một tổ khúc giao hưởng, tức là một chuỗi nhiều bản nhạc ngắn cho cả dàn nhạc.
Mình thấy chi tiết ấy rất cảm động. Cậu bé từng học nhạc qua tiếng thánh ca ở nhà thờ, giờ ngồi viết cho cả một dàn nhạc giao hưởng. Không có thầy dạy từ nhỏ, ông tự đi một con đường dài, rồi đến tuổi gần bốn mươi mới tìm thầy để học tiếp. Học không bao giờ là muộn.
Về sau, khi nhạc nhẹ phát triển, ông viết những tình khúc trữ tình mà người nghe hôm nay vẫn còn nhớ. Chiều trên bến cảng. Tình em biển cả. Từ ngày hôm nay. Hà Nội một trái tim hồng.
Chiều trên bến cảng là một bài hát mà nghe tên đã thấy một bức tranh. Một buổi chiều, những con tàu, mặt nước, ánh nắng cuối ngày. Mình nghĩ chỉ một người vừa vẽ vừa viết nhạc mới đặt tên bài hát như đặt tên một bức tranh vậy. Về sau, những giọng ca như Tùng Dương hát lại bài này.
Rồi Hà Nội một trái tim hồng. Ông là người Hà Nội, sinh ở phố Huế, đi xa nhiều năm, rồi trở về viết cho thành phố mình một bài hát. Chữ “trái tim hồng” nghe vừa trẻ trung, vừa ấm áp, như một cách gọi thân thương. Ca sĩ Tấn Minh là một trong những người hát bài này.
Ông viết hơn một trăm tác phẩm âm nhạc. Nhưng từ những năm tám mươi, ông dành phần lớn thời gian cho con đường thứ hai, con đường mà ông đã bước vào từ hồi còn là cậu học trò trường mỹ thuật.
Những giai điệu vẽ bằng màu sắc
Từ những năm tám mươi, Nguyễn Đức Toàn chủ yếu vẽ. Theo nhà phê bình Quang Việt, ông vẽ vừa vì đam mê, vừa để lo cho cuộc sống trong những năm khó khăn.
Ông vẽ đủ chất liệu: khắc gỗ, bột màu, mực nho, lụa, sơn dầu, sơn mài. Có khi không có vóc để vẽ sơn mài, tức là tấm nền gỗ đã được bó vải và bả sơn, ông tự tay làm lấy. Mình nghĩ đến người cha tạc tượng ở phố Huế năm nào. Đôi bàn tay của người con, rốt cuộc, vẫn mang nghề của cha.
Ông kể với báo rằng ông từng thử vẽ nhiều đề tài khác nhau, nhưng không thành. Rồi ông quay về những gì thân thuộc nhất: cây đa, giếng nước, chùa làng, con đường làng, cổng làng, mái đình, vầng trăng, những cô gái. Những bức tranh mang tên Đôi bạn, Chải tóc, Cô gái Hà Nội, Ráng chiều, Làng.
Ông cũng nói rõ một điều: ông không vẽ vì bí nhạc. Với ông, làm nhiều nghề là chuyện bình thường, như có nghề tay trái, có nghề tay phải. Ông kể rằng những người khách nước ngoài mua tranh của ông thường nhận xét rằng tranh ông rất Việt Nam.
Nhà phê bình Quang Việt có một nhận xét mà mình nghĩ là chìa khóa để hiểu con người này. Ông nói âm nhạc đã cho Nguyễn Đức Toàn khả năng nghe được hình và màu. Nghĩa là khi vẽ, ông như đang nghe một bản nhạc. Và khi viết nhạc, ông như đang vẽ.
Chính ông từng viết một câu rất đẹp về cách mình sáng tác: “Khi náo động nhất, có khi ta bỗng lắng lại để tìm một thi hứng âm nhạc”. Ông còn nói rằng đi đây đi đó, với một người làm nhạc, giống như ngồi thiền hơn là đi ghi chép. Không cần cầm sổ. Chỉ cần để cho mọi thứ thấm vào mình.
Năm hai nghìn lẻ bảy, báo Nhân Dân viết rằng ở tuổi gần tám mươi, ông vẫn viết nhạc, vẫn vẽ, vẫn đi tìm vẻ đẹp trong âm thanh và trong những đường nét của đời thường.
Ông mất rạng sáng ngày bảy tháng mười năm hai nghìn mười sáu, tại Hà Nội, thọ tám mươi bảy tuổi. Ba năm sau, đúng dịp chín mươi năm ngày sinh của ông, gia đình và giới mỹ thuật làm một triển lãm sáu mươi bức tranh của ông, ở Hà Nội. Triển lãm có một cái tên mà mình nghĩ là đẹp nhất để gọi đời ông: Những giai điệu vẽ bằng màu sắc.
Mình nghĩ về cậu bé ở phố Huế, đứng nghe thánh ca, rồi về nhà nhìn cha tạc tượng. Cả đời, cậu không chọn giữa tai và mắt. Cậu giữ cả hai. Và cậu dạy cho mình một điều: cái đẹp không cần phải chọn một lối đi. Một miền đồi có thể thành bài hát. Một bài hát có thể thành bức tranh. Một cây đa đầu làng có thể ngân lên như một câu nhạc.
Hôm nay, nếu có dịp đi qua một làng quê, nhìn một gốc đa, một cái giếng, một mái chùa, bạn thử đứng lại một chút và lắng nghe. Biết đâu, như ông, bạn sẽ nghe được màu sắc.
Tình Ca. Ở đây có bình an.