Những người viết nên Tình Ca · Tập 45
Thuận Yến – Người cha trên con đường đê
Chiếc xe đạp trên con đường đê
Có một chiếc xe đạp cũ chạy trên con đường đê. Hai bên là ruộng. Người đàn ông đạp xe, phía sau là cô con gái nhỏ, vừa đi biểu diễn về. Tiếng xích xe kêu lạch cạch đều đều trong bóng tối.
Rồi bỗng nhiên, cả hai bố con ngã nhào vào một đống rác bên đường.
Cô con gái ấy về sau là ca sĩ Thanh Lam. Kể lại với báo VnExpress, chị nói rằng chắc lúc ấy ông mải nghĩ chuyện sáng tác, không để ý đường. Người đàn ông đạp xe là cha chị, nhạc sĩ Thuận Yến.
Mình nghe chuyện này mà bật cười, rồi lại thấy thương. Một người cha chở con trên con đường đê, đầu óc vẫn còn đang lơ lửng ở một câu nhạc nào đó chưa viết xong. Cả đời ông, có lẽ, cũng đi như vậy: một tay giữ lấy gia đình, một nửa tâm trí ở trong âm nhạc.
Thanh Lam kể rằng mỗi lần chị đi hát, ông thường đưa đón, rồi ngồi dưới hàng ghế khán giả để nghe con. Không lên tiếng, không chỉ trỏ. Chỉ ngồi đó.
Chị kể thêm rằng hồi nhỏ chị học đàn tỳ bà suốt bảy năm. Tỳ bà là cây đàn dây gảy, hình như quả lê bổ đôi. Đến năm mười lăm tuổi, thấy con say mê ca hát, ông đồng ý cho con chuyển sang học thanh nhạc. Một quyết định nhỏ của người cha, mà mở ra cả một đời ca hát.
Sau khi ông mất, gia đình tìm thấy một cuốn sổ ông giữ riêng. Trong đó có ảnh con gái, có tấm phiếu bé ngoan đầu tiên của chị, có những bài báo viết về chị, có cả tấm vé máy bay của một chuyến đi biểu diễn xa. Ông không nói ra. Ông chỉ cất giữ.
Nhưng trước khi là người cha ấy, ông đã có một cái tên. Và cái tên đó có một câu chuyện nhỏ mà mình rất thích.
Cái tên ghép từ hai miền quê
Tên thật của ông là Đoàn Hữu Công. Ông sinh ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Về năm sinh, các nguồn ghi khác nhau: có nơi ghi năm một nghìn chín trăm ba mươi hai, có nơi ghi năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm. Khi ông mất, báo chí viết ông thọ tám mươi hai, tám mươi ba tuổi, nghiêng về năm ba mươi hai hơn.
Bút danh Thuận Yến được ông ghép từ một phần tên quê của cha và quê của mẹ. Theo một bài báo viết khi ông mất, lúc đài phát thanh viết cái tên ấy ra, họ đánh vần là Thuận Yến, và ông giữ luôn cách viết đó. Một cái tên sinh ra từ hai miền quê, rồi được đài phát thanh chọn giùm cách viết.
Từ rất trẻ, ông đã theo một đoàn văn công, đi hát, đi diễn. Rồi ông học sáng tác ở Trường Âm nhạc Việt Nam, và về sau học thêm ở nhạc viện Hà Nội. Ông là một trong những học trò của nhạc sĩ Hồng Đăng.
Ông viết đủ thứ: ca khúc, nhạc không lời cho đàn, nhạc cho múa, nhạc cho phim. Có một bản sonate, tức là một tác phẩm nhiều chương cho nhạc cụ, và một bản Khúc nhạc miền Trung. Cái gốc xứ Quảng không rời ông.
Nhưng điều mà các bạn nghề hay nhắc khi nói về ông, lại là chuyện khác. Ông là người hiếm hoi trong lớp nhạc sĩ cùng thời đi từ những bài hát quen thuộc của thế hệ mình sang hẳn dòng nhạc nhẹ, những tình khúc dành cho người trẻ.
Nhạc sĩ Nguyễn Cường kể về ông bằng một câu rất ngắn, mà mình nghĩ là đủ: “Ai cũng yêu quý anh vì Thuận Yến hiền lắm”.
Một người hiền như vậy thì cưới ai? Ông cưới một người chơi đàn tranh. Và tiếng đàn ấy ở trong nhà ông suốt hơn bốn mươi năm.
Tiếng đàn tranh trong nhà
Vợ ông là nghệ sĩ đàn tranh Hồ Thanh Hương. Đàn tranh, người miền Nam còn gọi là đàn thập lục, vì ngày xưa cây đàn có mười sáu dây. Theo báo chí, bà không chỉ là vợ, mà còn là người góp ý về âm nhạc cho nhiều bài hát của ông.
Trong một đêm nhạc tưởng nhớ ông, bà kể rằng có những bài ông viết từ cảm hứng về bà. Một bài tên là Tiếng đàn thập lục. Và một bài nữa, nổi tiếng hơn nhiều: Chia tay hoàng hôn.
Theo một bài báo viết về ông, Chia tay hoàng hôn gắn với một cuộc chia tay có thật của hai vợ chồng, cuối những năm sáu mươi. Bà phải ra Hà Nội chữa bệnh. Hai người chia tay nhau bên đường, lúc mặt trời lặn. Báo cũng viết đó là bài ông thích nhất trong các sáng tác của mình.
Có một điều mình phải nói rõ. Theo báo Tri thức trực tuyến, lời bài hát được phổ từ thơ của nhà thơ Thanh Tùng. Nghĩa là câu chữ là của nhà thơ, còn giai điệu và nỗi nhớ riêng là của người nhạc sĩ. Mình chỉ thấy một nguồn ghi điều này, nên xin nói kèm tên tờ báo.
Nghe Chia tay hoàng hôn, mình thấy nó không buồn bã kiểu than khóc. Giai điệu có những quãng vươn lên rất rộng, rồi buông xuống chậm rãi, giống như ánh nắng cuối ngày trải ra, rồi tắt dần. Người hát phải giữ được hơi rất dài, và phải có một giọng đủ dày để chở được cái mênh mang ấy.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, Thanh Lam dự cuộc thi đơn ca chuyên nghiệp toàn quốc lần đầu tiên, nhận sáu điểm mười. Ông kể với báo rằng ông xúc động đến rơi nước mắt. Rồi Chia tay hoàng hôn trở thành bài khán giả yêu cầu nhiều nhất mỗi lần chị xuất hiện. Năm chín mươi hai, chín mươi ba, bài hát được bình chọn là bài hát được nhiều người yêu thích của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Ông còn viết cho vợ một bài về mẹ, tên là Lắng nghe con mẹ ru mẹ hát. Mình nghĩ cái tên ấy đã nói hết. Trong căn nhà ấy, người mẹ chơi đàn, người con hát, và người cha thì viết, rồi ngồi nghe.
Báo chí còn kể một chuyện nhỏ mà mình rất quý. Trong hơn bốn mươi năm chung sống, hai ông bà chỉ cãi nhau đúng một lần, khi Thanh Lam mới được mười tháng tuổi.
Nhưng nếu hỏi Thuận Yến bài hát của ông sống nhờ ai, thì câu trả lời của ông luôn chỉ về một người.
Bài hát sống nhờ người hát
Năm hai nghìn lẻ chín, ông nói với báo Tri thức trực tuyến một câu rất khiêm tốn: “Tôi nghĩ, cái tên Thuận Yến sống và sống động trong người nghe đều bắt nguồn từ giọng hát của Lam”.
Ông còn nói thêm rằng những bài hát của ông sống được đến bây giờ là nhờ cách con gái thể hiện, và ông phải cảm ơn con vì điều đó. Một người cha cảm ơn con gái. Một nhạc sĩ cảm ơn người hát. Mình ít khi nghe được những lời như thế.
Có chuyện về bài Khát vọng. Ông kể ông phổ bài này từ bài thơ Tình yêu của nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến, và định giữ luôn tên là Tình yêu. Nhưng Thanh Lam một mực đòi ba đổi thành Khát vọng. Ông chiều con. Rồi khi nghe con hát, ông mới hiểu vì sao: con đã cháy hết mình, như chính những gì viết trong bài.
Ông cũng kể rằng khi tập bài mới, con gái ông bướng lắm. Một bài có khi chị tập đi tập lại mười, mười lăm lần. Ông nhìn mà thương con. Còn Thanh Lam thì nói chị học từ cha cái tính nghiêm khắc trong nghề. Ông sáng tác đều đặn mỗi tối.
Thanh Lam kể với VnExpress rằng cha chưa từng viết bài nào riêng cho chị. Và chị hay biến tấu vài đoạn trong nhạc của cha cho hợp với cách hát của mình. Riêng bài Em tôi, chị nói, là không thể thay đổi gì. Mình nghĩ đó là lời khen đẹp nhất mà một người hát có thể dành cho một bài hát.
Ngoài những bài ấy, ông còn những tình khúc như Tình yêu không lời, Thành phố vắng anh. Những cái tên nghe đã thấy một nỗi nhớ rất nhẹ, rất kín, đúng như con người ông.
Ông mất ngày hai mươi bốn tháng năm năm hai nghìn mười bốn, tại nhà riêng ở Hà Nội, sau một thời gian bệnh. Mấy tháng sau, gia đình và bạn bè làm một đêm nhạc tưởng nhớ ông. Thanh Lam hát. Bà Thanh Hương chơi đàn. Người cháu ngoại của ông cũng lên sân khấu.
Mình nghĩ về chiếc xe đạp trên con đường đê. Người cha mải nghĩ một câu nhạc, ngã nhào, rồi chắc là phủi áo đứng dậy, chở con đi tiếp. Âm nhạc của ông cũng vậy. Không ồn ào, không cần ai khen. Chỉ cần có người hát, có người nghe, là đủ.
Hôm nay, nếu bạn nghe lại một bài hát nào đó mà bạn yêu, mình mong bạn thử nhớ đến người hát, và cả người đã viết ra nó. Họ cần nhau. Như người cha cần con gái, như tiếng đàn cần giọng hát, như hoàng hôn cần một người đứng lại để nhìn.
Tình Ca. Ở đây có bình an.