Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 42

Nguyễn Trọng Tạo – Gã nhà quê cầm bút, cầm đàn

Cuộc điện thoại buổi sáng

Năm hai nghìn không trăm lẻ hai, ở một trại sáng tác tại Vũng Tàu, nhà thơ Lê Huy Mậu đưa cho người bạn một chùm năm bài thơ. Đó là những đoạn trích trong một trường ca của anh. Tối hôm ấy, hai người chia tay, ai về phòng nấy.

Sáng hôm sau, điện thoại reo. Người bạn gọi sang, nói vừa làm xong phần nhạc, rồi hát luôn qua điện thoại cho Lê Huy Mậu nghe. Bài hát ấy là Khúc Hát Sông Quê. Và người hát qua điện thoại buổi sáng hôm đó là Nguyễn Trọng Tạo.

Lê Huy Mậu kể lại chuyện này trên báo Sài Gòn Giải Phóng, ít ngày sau khi bạn mình mất. Anh còn nói một điều rất thật: chính thành công của bài hát ấy đã giúp anh được kết nạp vào Hội Nhà văn.

Nguyễn Trọng Tạo sinh ngày hai mươi lăm tháng tám năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy, ở làng Tràng Khê, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Nhà làm ruộng. Có thời ông đi làm thợ mộc.

Theo báo Pháp Luật Việt Nam, con đường âm nhạc của ông bắt đầu từ một cây vĩ cầm do chính tay ông làm lấy. Ông tự học trên cây đàn ấy, rồi đứng kéo đàn cho cả trường nghe trong những buổi chào cờ sáng thứ hai. Một cậu học trò làng, một cây đàn tự đẽo. Mình nghĩ cái hồn nhạc của ông có từ đó, mộc mạc và tự lực.

Ông nói về mình rất thẳng: tính tôi cả nể, quê một cục, tôi thẳng tính. Có lần đứng trên sân khấu, ông còn nói thêm một câu mà mình rất thích: tôi luôn biết ơn làng và người làng mình. Những bài hát về làng quê, về bến sông của ông, theo lời ông, đều từ cái làng ấy mà ra.

Lớn lên, ông đi xa nhà, từng phụ trách một đoàn văn nghệ, rồi học khóa đầu tiên của Trường Viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội. Ông làm thơ, vẽ bìa sách, viết phê bình. Ông coi thơ là việc lớn nhất đời mình. Còn nhạc, ông bảo là làm cho vui, để hát cho bạn bè nghe trong những buổi ngồi với nhau.

Nhưng cái việc làm cho vui ấy lại sinh ra một bài hát về làng quan họ vùng Kinh Bắc, do một người xứ Nghệ viết.

Người xứ Nghệ hát quan họ

Làng Quan Họ Quê Tôi ra đời năm một nghìn chín trăm tám mươi mốt. Ông phổ từ thơ của nhà văn Nguyễn Phan Hách. Ngay năm ấy, bài hát được tỉnh Hà Bắc, tức vùng Bắc Ninh, Bắc Giang bây giờ, trao một giải thưởng đặc biệt.

Chuyện một người xứ Nghệ viết bài hát về quan họ, nghĩ cũng lạ. Quan họ là lối hát đối đáp của các liền anh, liền chị vùng Kinh Bắc, tức những đôi bạn hát nam nữ, mời trầu, mời nước, hát với nhau cả đêm. Người ngoài vùng muốn chạm vào nó mà không làm hỏng nó, phải nghe rất nhiều, và phải rất khiêm tốn.

Nghe Làng Quan Họ Quê Tôi, mình sẽ thấy ông không bắt chước một làn điệu cụ thể nào. Ông mượn cái không khí: nhịp đi chậm, những chữ ngân dài, những tiếng đệm ơi, à như người ta gọi nhau qua sông. Giai điệu có chỗ uốn lượn rất Bắc, có chỗ lại trầm xuống, rộng ra, như giọng Nghệ. Hai vùng quê gặp nhau trong một bài hát.

Bài hát đi xa hơn ông tưởng. Một hãng đĩa của Nhật Bản chọn nó vào một đĩa hát gồm một trăm bài hát Việt Nam. Một dàn nhạc giao hưởng ở thành phố Leipzig, nước Đức, từng trình tấu bài này trong một tuần văn hóa Việt Nam. Một làng quê nhỏ được hát lên ở nửa bên kia trái đất.

Ca sĩ Anh Thơ, người hát hai bài Làng Quan Họ Quê Tôi và Khúc Hát Sông Quê nhiều nhất, từng nói ông như đo ni đóng giày cho giọng hát của chị. Nghĩa là bài hát vừa khít với giọng, như cái áo may đo.

Có một điều thú vị: ông là nhà thơ, mà lại ít khi phổ thơ của chính mình. Phần lớn bài hát của ông là thơ của người khác, của bạn bè. Thơ của ông thì lại được người khác phổ, như nhạc sĩ Phú Quang với Một Dại Khờ Một Tôi, nhạc sĩ Giáng Son với Cỏ Và Mưa.

Ông cho, rồi ông nhận. Đem thơ bạn thành bài hát, rồi để bạn nhạc đem thơ mình thành bài hát. Cả đời ông như một cái bến đò ngang, chở qua chở lại giữa hai bờ thơ và nhạc.

Khúc hát của một dòng sông

Trở lại với cuộc điện thoại buổi sáng ở Vũng Tàu. Bài thơ gốc của Lê Huy Mậu dài hơn bài hát nhiều. Nhà thơ Văn Công Hùng viết trên báo Pháp Luật Việt Nam rằng bài thơ nguyên thủy rất hay, có khi hay hơn cả phần lời trong bài hát.

Khi được hỏi vì sao bỏ bớt nhiều câu thơ, Nguyễn Trọng Tạo trả lời ngắn gọn: ca khúc nó có quy luật riêng của nó. Ông cho rằng lời hát đôi khi phải giản dị đi, thì người ta mới hát được. Một nhà thơ nói câu ấy về thơ của bạn mình, mình thấy là một sự tôn trọng. Ông không sửa thơ cho hay hơn. Ông chỉ chọn ra những chữ hát được.

Khúc Hát Sông Quê là một bài nhớ quê rất dịu. Nhịp chậm, giai điệu như dòng nước chảy quanh một khúc sông. Chữ được đặt sát dấu giọng, nên người hát chỉ cần hát cho thật, không cần làm điệu. Ở những chỗ nhớ nhất, ông để câu nhạc ngân dài, như người đứng trên bờ đê nhìn về phía nhà.

Năm hai nghìn không trăm lẻ năm, bài hát được Hội Nhạc sĩ Việt Nam trao giải. Người ta kể có người dùng bài này ru cháu ngủ. Có người gọi điện xin số của Lê Huy Mậu, chỉ để hát cho nhà thơ nghe bài hát của chính anh.

Ông còn nhiều bài khác về sông nước, làng quê. Đôi Mắt Đò Ngang. Tình Ca Bên Một Dòng Sông. Non Nước Cao Bằng. Mẹ Tôi. Con Dế Buồn, viết khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy. Tổng cộng gần một trăm bài hát, cho một người tự nhận nhạc chỉ là việc làm cho vui.

Năm một nghìn chín trăm tám mươi tám, ông vào sống ở Huế, làm cho hai tạp chí văn chương Sông Hương và Cửa Việt. Năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, ông ra Hà Nội làm thư ký tòa soạn Tạp chí Âm nhạc. Ông vẽ nhiều bìa sách, có bìa được giải. Lá cờ thơ treo trong những Ngày thơ Việt Nam cũng là tranh của ông.

Những người viết trẻ nhớ ông như một người anh hay nâng đỡ. Ông viết lời giới thiệu cho tập thơ đầu tay của nhiều người. Ông quý cái mới, quý người có cá tính. Bạn bè thì nhớ ông ở những bữa ngồi lâu, rượu vào là ông cầm đàn hát bài của mình.

Rồi tới những năm ông không còn cầm đàn được nữa.

Trên cỏ ta ngồi

Có một chuyện nhỏ mà nhà báo Bùi Hoàng Tám kể trên báo Nhân Dân. Khi đã gần sáu mươi tuổi, ông tự cõng mẹ già từ tầng một lên tầng sáu một khu nhà ở Hà Nội. Ông nói với người bạn trẻ: đó là việc nên làm nhất ở đời này em ạ. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, bạn thân của ông, cũng nhớ chuyện ông cõng mẹ lên mấy tầng gác để đi khám bệnh.

Tháng chín năm hai nghìn không trăm mười bảy, bạn bè làm cho ông một đêm nhạc ở Nhà hát Lớn Hà Nội, lấy tên là Khúc Hát Sông Quê. Ông gọi việc nhận lời làm đêm nhạc ấy là lần trót dại, và cũng là lần dại cuối. Ông nói vậy bằng giọng cười của người xứ Nghệ.

Cuối năm ấy, trên đường về thăm làng, ông bị đột quỵ nặng, liệt nửa người. Bạn bè tưởng không qua. Vậy mà ông trở lại. Tháng tám năm sau, đúng dịp sinh nhật bảy mươi mốt tuổi, ông có thêm một đêm nhạc ở thành phố Vinh, ngay trên quê nhà, như một lời cảm ơn.

Mùa xuân năm hai nghìn không trăm mười tám, ông biết mình bị ung thư phổi. Ông chống chọi thêm mấy tháng. Ông mất lúc mười chín giờ năm mươi phút ngày bảy tháng một năm hai nghìn không trăm mười chín, tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, ở tuổi bảy mươi hai.

Trong một bài thơ của ông có câu: hôm nay trên cỏ ta ngồi. Câu sau nói về ngày mai, khi người ta nằm dưới cỏ. Đọc lại, nhiều người thấy như ông đã chào từ trước. Nhẹ nhàng thôi, không bi lụy, như một người đứng dậy khỏi bãi cỏ sau buổi chiều ngồi với bạn.

Gia đình về sau dựng cho ông một khu tưởng niệm ở quê nhà Nghệ An, và đưa ông về đó. Cậu học trò kéo cây vĩ cầm tự đẽo trong buổi chào cờ năm nào, cuối cùng đã về lại làng.

Cái còn lại cho mình hôm nay là gì? Mình nghĩ là một cách sống với chữ, với bạn. Chọn những chữ hát được. Đem thơ của bạn hát lên cho đời nghe. Và luôn biết ơn cái làng đã nuôi mình lớn.

Nếu bạn muốn nghe lại ông, hãy nghe Khúc Hát Sông Quê vào một buổi tối, rồi nghe Làng Quan Họ Quê Tôi. Một bài của sông, một bài của làng. Cả hai đều viết bằng chữ của bạn ông, mà vẫn đầy ắp tấm lòng ông.

Tình Ca. Ở đây có bình an.