Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 37

Châu Kỳ – Tiếng ca Huế trong tình khúc

Trở về sau trận lụt

Mình kể bạn nghe về một chàng trai Huế, khoảng hai mươi tuổi. Chàng đi xa nhà một thời gian, theo một gánh hát. Khi trở về Huế, chàng mới biết, mẹ mình đã mất. Bà bị nước cuốn đi trong một trận lụt.

Chàng không kịp nhìn mặt mẹ lần cuối. Và trong nỗi đau ấy, chàng viết bài hát đầu tiên của đời mình. Bài tên là Trở về.

Chàng trai ấy là Châu Kỳ.

Về năm tháng, các nguồn kể hơi khác nhau. Có bài báo nói ông viết Trở về năm mười chín tuổi, sau trận lụt năm một nghìn chín trăm bốn mươi ở Huế. Có bài lại kể đó là khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba. Mình chỉ dám nói, đó là những năm đầu của thập niên bốn mươi, khi ông còn rất trẻ.

Bài hát được nhà xuất bản Tinh Hoa mua bản quyền để in. Rồi những năm năm mươi, Trở về được phát nhiều trên các đài phát thanh, và cái tên Châu Kỳ bắt đầu được người nghe nhạc biết tới.

Bạn thử nghĩ coi. Một người bắt đầu viết nhạc bằng một bài về sự trở về muộn. Về tới nơi thì người mình thương đã không còn. Cái cảm giác ấy, về muộn một bước, thương mà không kịp, có lẽ đã nằm lại trong nhạc ông suốt cả đời.

Sau Trở về, ông viết thêm Khúc ly ca, Từ giã kinh thành, Khi ánh trăng vàng lên khơi. Những bài có màu dân ca miền Trung rất rõ. Và từ đó, ông quyết định sẽ sống bằng nghề viết nhạc.

Nhưng muốn hiểu vì sao nhạc ông buồn như thế, mình phải về lại cái làng nơi ông sinh ra.

Làng nón bên sông Như Ý

Châu Kỳ tên thật là Châu Huy Kỳ. Ông sinh ngày năm tháng mười một năm một nghìn chín trăm hai mươi ba, ở làng Dưỡng Mong, nay thuộc huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế.

Dưỡng Mong là một làng thuần nông, nằm bên sông Như Ý. Làng có nghề chằm nón. Một bài báo về quê ông kể rằng ở những làng như thế, người ta vừa chằm nón vừa hò, vừa hát. Thơ ca, hò vè, ca Huế truyền từ miệng người này sang người khác, như hơi thở hằng ngày.

Cha ông là cụ Châu Huy Hà, một nghệ nhân ca Huế. Chị gái ông là bà Châu Thị Minh, nghệ danh Hồng Thu, một tên tuổi lớn của sân khấu thời ấy. Báo Tuổi Trẻ có nhắc bà nằm trong nhóm năm nữ nghệ sĩ nổi danh, cùng thời với Phùng Há, Ái Liên.

Bạn thấy không, ông lớn lên trong tiếng ca Huế. Ca Huế là lối hát thính phòng của xứ Huế, chậm, buồn, nhiều luyến láy, hát trên thuyền, hát trong nhà vườn. Cái giọng ấy ngấm vào ông từ nhỏ, trước cả khi ông biết đọc nốt nhạc.

Lớn lên, ông học ở trường Khải Định, một trường trung học lớn của Huế. Ở đó, ông được một tu sĩ thầy dòng tên Thiều dạy nhạc lý và sáng tác. Ông chơi giỏi ghi ta và dương cầm.

Bạn bè hồi ấy còn gọi ông là Tino Rossi thứ hai. Tino Rossi là một ca sĩ người Pháp rất nổi tiếng thời đó, giọng ngọt và mềm. Chàng trai Huế hay hát một bài tiếng Pháp của Tino Rossi, nên được đặt cho cái biệt danh ấy.

Rồi gia cảnh khó khăn. Theo báo Tuổi Trẻ, ông bỏ học để đi làm, lấy tiền nuôi cha mẹ đã già. Ông lập và dẫn dắt một ban nhạc tên Tiếng Thùy Dương.

Một bên là tiếng ca Huế của cha. Một bên là nhạc phương Tây học từ người thầy dòng. Hai dòng ấy gặp nhau trong ông. Báo Tuổi Trẻ có nhận xét, ông là một trong những người góp phần đặt nền cho lối nhạc kết hợp giữa nhạc phương Tây và âm hưởng truyền thống Việt Nam, mà về sau người ta gọi là dòng bolero.

Và với cái vốn ấy, ông bắt đầu viết những bài tình ca làm bao nhiêu người rơi nước mắt.

Giọt lệ đài trang

Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, Châu Kỳ viết Giọt lệ đài trang. Đó là bài hát nhiều người nhắc tới nhất khi nói về ông.

Đài trang là chữ cũ, chỉ người con gái nhà quyền quý, sống trong lầu son gác tía. Giọt lệ đài trang là giọt nước mắt của một người như thế.

Về người con gái trong bài, có hai câu chuyện. Nhiều người tin rằng ông viết cho một cô gái ở Nha Trang. Còn chính ông, trong một đêm nhạc, đã kể một câu chuyện khác.

Theo lời ông kể, được báo Dân Việt ghi lại, hồi ở Huế, ông từng thương một tiểu thư con nhà quan. Ông đem đàn tới hát dưới nhà. Cô gái đáp lại bằng một câu rất lạnh: xướng ca vô loài. Đó là câu nói cũ, ý chê những người làm nghề ca hát là hạng không ra gì.

Nhiều năm sau, ông đã thành danh, sống ở Sài Gòn. Một ngày, ông gặp lại người con gái năm xưa. Cô sống rất nghèo. Ông đưa cho cô một số tiền để đỡ đần. Về sau, nghe nói cô mất trong cảnh túng thiếu.

Mình kể lại chuyện này mà không thấy có chút nào hả hê. Bài hát không phải lời trách. Giọt lệ trong bài là giọt lệ của người con gái kia, chứ không phải của ông. Ông viết về nỗi buồn của chính người đã làm mình buồn. Đó là một tấm lòng rộng.

Bạn nghe Giọt lệ đài trang mà để ý cái nhịp. Chậm, đều, rõ từng phách, có cái lắc lư nhẹ của điệu bolero. Giai điệu nhiều chỗ luyến, kéo một chữ qua mấy nốt. Đó là cái hơi ca Huế ông mang từ làng Dưỡng Mong. Người hát nhạc Châu Kỳ hay, là người biết ngân chỗ ấy cho mềm, đừng gằn.

Rồi có bài Được tin em lấy chồng. Theo báo Dân Việt, ông viết bài này cho ca sĩ Thanh Thúy, một giọng hát trầm buồn rất nổi tiếng thời ấy. Bài hát được hát nhiều tới mức, theo bài báo, tiền tác quyền đủ để ông mua một chiếc xe hơi.

Ông còn là thầy của nhiều giọng hát. Báo Tuổi Trẻ kể, ông từng dìu dắt Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Băng Châu, Chế Linh. Những giọng hát ấy về sau đi khắp nơi, mang theo cách ngân, cách luyến mà ông dạy.

Đừng nói xa nhau, Tìm nhau trong kỷ niệm, Khúc ly ca. Đọc tên thôi đã thấy buồn. Nhưng nhạc buồn của ông không làm người ta gục xuống. Nó làm người ta muốn ngồi lại với nhau lâu hơn một chút.

Người vợ nhỏ và bài hát cuối

Năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, Châu Kỳ cưới bà Kha Thị Đàng. Bà khi ấy mới mười sáu tuổi, còn là nữ sinh trường Gia Long ở Sài Gòn. Gia đình bà không đồng ý. Nhưng bà vẫn chọn ông.

Hai ông bà có bốn người con. Họ sống giản dị suốt mấy chục năm. Ông là người đa tình, viết bao nhiêu bài cho những người con gái khác. Bà biết cả. Bà từng nói với báo một câu rất mộc, rằng làm vợ thì phải thông cảm cho chồng. Báo Dân Việt kể, nhiều năm sau khi ông mất, bà vẫn thuộc gần hết các bài hát của ông.

Năm hai nghìn không trăm lẻ năm, bà đi hành hương lên Yên Tử, ngọn núi thiêng ở Quảng Ninh. Về nhà, bà viết một bài thơ tên Ánh đạo vàng. Lúc ấy ông đã bệnh. Vậy mà ông vẫn ngồi phổ bài thơ của vợ thành bài hát, và hứa sẽ dạy bà hát.

Mình nghĩ tới hình ảnh ấy hoài. Một ông già hơn tám mươi tuổi, cả đời viết tình ca cho bao nhiêu người, những ngày cuối lại ngồi viết nhạc cho thơ của vợ mình. Như một lời cảm ơn muộn. Mà muộn thì vẫn hơn không.

Ông sống ở Sài Gòn hơn ba phần tư cuộc đời. Nhưng Huế thì chưa bao giờ rời khỏi nhạc ông. Có Huế xưa, có Miền Trung yêu dấu, có Từ giã kinh thành. Kinh thành ở đây chính là Huế, cái thành cổ bên sông Hương.

Những tháng cuối đời, ông nằm liệt giường hơn hai tháng. Rạng sáng ngày sáu tháng một năm hai nghìn không trăm lẻ tám, khoảng một giờ mười phút, Châu Kỳ mất ở Thủ Đức, thọ tám mươi lăm tuổi.

Gia đình đưa ông về Huế. Ông được an táng trên đồi Nam Giao.

Bạn thấy không. Cả đời ông bắt đầu bằng một bài hát tên Trở về. Viết vì về muộn, không kịp gặp mẹ. Và cuối cùng, ông cũng trở về. Về lại đất Huế, nơi có làng Dưỡng Mong, có sông Như Ý, có tiếng ca Huế của cha ông năm nào.

Nếu hôm nay bạn nghe lại một bài của Châu Kỳ, hãy nghe nó chậm thôi. Nghe cái hơi ngân, cái chỗ luyến. Đó là tiếng của một ngôi làng nhỏ bên sông, đã đi theo một người suốt tám mươi lăm năm. Và nếu bạn còn mẹ, còn cha ở quê, có khi nào đó, đừng để mình về muộn.

Tình Ca. Ở đây có bình an.