Những người viết nên Tình Ca · Tập 35
Nguyễn Ánh 9 – Người ngồi sau cây dương cầm
Một câu hát trước cửa thang máy
Mình kể bạn nghe về một buổi tối ở Osaka, bên Nhật. Một nhóm nghệ sĩ Việt Nam sang biểu diễn. Họ đứng chờ thang máy trong khách sạn. Nữ ca sĩ Khánh Ly quay sang người nhạc công đệm đàn cho mình, hỏi đùa một câu. Người nhạc công trả lời bằng cách hát lên. Một câu chơi chữ, có giai điệu hẳn hoi. Rồi cửa thang máy mở, mọi người cười, và anh quên mất.
Nhưng Khánh Ly thì không quên. Bà nhớ câu hát ấy. Bà bảo anh, viết tiếp đi, viết cho thành một bài.
Bài hát ấy tên là Không. Người nhạc công ấy là Nguyễn Ánh Chín.
Về năm tháng, các nguồn ghi hơi khác nhau. Có bài nói đó là tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi, khi đoàn sang hát ở hội chợ Osaka. Có bài nói là khoảng cuối năm sáu mươi chín, đầu năm bảy mươi. Có nguồn còn kể một chuyện khác, rằng giai điệu đến với ông trong một đêm lạnh đi dạo ở bên Pháp. Chính ông, trong một buổi trò chuyện với khán giả năm hai nghìn không trăm mười một, đã kể chuyện cái thang máy.
Khánh Ly là người thu âm bài Không đầu tiên. Rồi ca sĩ Elvis Phương hát lại với nhịp nhanh hơn, và bài hát bay đi khắp nơi. Đặng Lệ Quân, danh ca người Hoa mà nhiều người mình biết qua những bài tiếng Hoa ngọt ngào, cũng hát một phiên bản lời Hoa.
Bạn có để ý không, cả một bài hát dài, mà tên chỉ có đúng một chữ. Theo một bài viết trên trang của Hội Nhạc sĩ, ban đầu ông định đặt tên dài hơn. Rồi cắt, rồi gọt, cuối cùng còn lại một chữ. Một chữ mà nói được cả một cuộc chia tay.
Về sau, có hai ca sĩ hát cùng một phòng trà cứ tranh nhau bài này. Ông bèn viết thêm Không một, Không hai, để mỗi người có một bài. Ông còn định viết Không ba, nhưng chưa xong.
Một bài hát ra đời từ một câu đùa. Nghe thì nhẹ tênh. Nhưng muốn câu đùa thành câu hát, người ta phải có sẵn âm nhạc ở trong người. Và cái âm nhạc ấy, ông đã mang theo từ rất lâu.
Cậu con út và cái tên có chín chữ
Nguyễn Ánh Chín tên thật là Nguyễn Đình Ánh. Ông sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi ở Phan Rang, Ninh Thuận, là con út trong một gia đình khá giả có ba người con. Có tờ báo ghi ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, nhưng phần lớn các nguồn ghi bốn mươi.
Mười một tuổi, ông theo gia đình lên Sài Gòn, học trường Taberd. Rồi lên Đà Lạt học nội trú ở trường Yersin. Ở Đà Lạt, mỗi sáng Chủ nhật, nhạc sĩ Hoàng Nguyên, người viết bài Ai lên xứ hoa đào, dạy cho ông những kiến thức âm nhạc đầu tiên. Ngoài những buổi ấy, ông gần như tự học.
Cha ông muốn ông làm giáo sư hoặc bác sĩ. Ông thì chỉ muốn làm nhạc. Theo báo Tiền Phong, người lặng lẽ đứng về phía ông là mẹ, bà Huỳnh Thị Toại. Bà đưa tiền cho con, để con vừa đi làm thêm vừa đi học nhạc. Cả đời ông, ông nhắc lại điều đó với lòng biết ơn.
Còn cái tên. Tại sao lại có số chín? Chuyện được kể trên nhiều tờ báo. Người yêu đầu tiên của ông đặt cho ông cái tên ấy. Nguyễn Đình Ánh thì dài quá. Rút lại thành Nguyễn Ánh thì lại trùng tên một vị vua. Mà Nguyễn Ánh có đúng chín chữ cái. Theo quan niệm phương Đông, chín là con số may mắn. Thế là thành Nguyễn Ánh Chín.
Mối tình đầu ấy không thành. Ông kể, khi ông mười tám tuổi, gia đình cô gái không đồng ý, đưa cô sang Pháp. Nhiều năm sau gặp lại, hai người đều đã có gia đình riêng. Họ hẹn với nhau thôi đừng gặp nữa. Ông giữ lại của người ấy một cái tên, và mang nó suốt cả đời.
Tốt nghiệp trung học xong, ông hát trong chương trình Tuổi Xanh của đài phát thanh, rồi đi đàn dương cầm ở các phòng trà, nhà hàng. Ở phòng trà Anh Vũ, ông quen nhiều người làm nhạc, và quen một cô vũ công tên Ngọc Hân. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, hai người cưới nhau. Bà bỏ nghề múa để lo cho gia đình. Hai con trai của ông bà về sau đều theo nghề nhạc.
Những năm đầu bảy mươi, ông là người đệm dương cầm cho nhiều giọng hát lớn ở Sài Gòn. Có Thái Thanh, có Khánh Ly. Ông từng nói Thái Thanh là người ông thích đệm đàn nhất.
Bạn để ý điều này. Trước khi là người viết bài hát, ông là người ngồi sau lưng ca sĩ. Ông hiểu một giọng hát cần gì, thở ở đâu, ngân chỗ nào. Và khi ông viết, ông viết cho giọng hát người ta dễ thở.
Buồn ơi chào mi, và một chuyện ở vũ trường
Sau bài Không, những năm đầu thập niên bảy mươi, ông viết thêm nhiều bài. Có Chia phôi, có Một lời cuối cho em, có Mùa thu cánh nâu. Và có hai bài mà người ta hát nhiều nhất: Buồn ơi chào mi, và Ai đưa em về.
Cái tên Buồn ơi chào mi nghe rất lạ. Mi là tiếng xưng hô thân mật của người miền Trung, như nói với một người bạn. Có phóng viên báo Tiền Phong hỏi ông, có phải ông nghĩ tới cuốn tiểu thuyết Buồn ơi chào nhé của nữ văn sĩ người Pháp Françoise Sagan không. Ông nhận là có.
Nhưng ông không mượn câu chuyện của cuốn sách. Ông mượn một thái độ. Ông kể với báo rằng ông hay dạy các con, khi buồn thì hãy tìm niềm vui ngay trong nỗi buồn. Bài hát này là như vậy. Nỗi buồn đến thì mình chào nó, như chào một người quen. Không xua đuổi, không chìm vào.
Nghe Buồn ơi chào mi, bạn sẽ thấy giai điệu không hề ủ rũ. Nó có nhịp, có độ nảy, có cái gì đó rất phòng trà của Sài Gòn những năm ấy. Lời thì buồn mà nhạc thì đứng thẳng. Hai thứ ấy đi cùng nhau, làm cho bài hát vừa thấm vừa không bi lụy.
Còn Ai đưa em về thì có một câu chuyện thật. Theo lời ông kể, được báo Công an Nhân dân ghi lại, có một cô gái làm vũ nữ ở Sài Gòn. Cô yêu một chàng sinh viên y khoa nghèo. Cô làm đêm ở vũ trường, lấy tiền lo cho người yêu ăn học. Tới khi chàng thành bác sĩ, anh bỏ cô, đến với người khác.
Ông là bạn của chàng trai ấy. Ông cũng là người nhạc công ngồi trên sân khấu, nhìn thấy cô gái một mình rời vũ trường sau khi mọi thứ tan vỡ. Ông nói, bài hát là lời xin lỗi cô, thay cho người bạn của mình.
Mình nghe chuyện ấy mà thấy thương. Một người đàn ông không làm gì sai, lại mang trong lòng cái lỗi của người khác, và chọn cách duy nhất mình biết để xin lỗi. Bằng một bài hát.
Bạn nghe lại Ai đưa em về lần nữa, hãy tưởng tượng cái cảnh ấy. Đèn vũ trường đã tắt bớt. Người nhạc công vẫn còn ngồi bên cây đàn. Một bóng áo đi ra cửa, không ai đưa về.
Rồi có những năm cuộc đời ông đổi khác. Ông xa sân khấu một thời gian, làm đủ việc để sống, có lúc mở lớp dạy đàn. Khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi hai, ông trở lại với âm nhạc, viết nhạc cho phim, rồi lại ngồi vào cây đàn.
Năm năm cho một bài Cô đơn
Có một bài hát ông mất năm năm mới viết xong. Bài ấy tên là Cô đơn.
Theo lời ông kể, khoảng những năm chín mươi, một buổi chiều đạp xe về sau giờ làm, ông nghĩ ra mấy câu đầu. Rồi để đó. Nhiều năm sau, đi dự đám cưới một người học trò, ông mới có thêm cảm hứng viết nốt phần còn lại. Ông viết bài ấy cho một nữ ca sĩ mà ông từng đệm đàn, người về sau sống ở rất xa.
Một bài viết trên trang Hội Nhạc sĩ cho biết, Cô đơn là bài ông yêu quý nhất. Nó nói về tình tri âm, cái tình của hai người làm nghệ thuật hiểu nhau, mà ông đặt cao hơn cả tình yêu.
Từ Cô đơn, ông viết thêm Bơ vơ, rồi Tiếng hát lạc loài. Ba bài nối nhau thành một chuỗi, kể một câu chuyện tình. Và tên của ba bài, chính là ba cụm chữ đi liền nhau trong câu kết của bài Cô đơn. Một người làm nhạc, mà chơi với chữ tinh tế như một người làm thơ.
Nghe Cô đơn, bạn để ý tiếng dương cầm. Nó không chỉ đệm. Nó nói chuyện với giọng hát, có lúc đi trước, có lúc nán lại phía sau. Đó là tiếng đàn của một người đã ngồi đệm cho người khác hát suốt mấy chục năm.
Cũng có lúc ông tính bỏ nghề. Sân khấu chuyển sang dùng đàn điện tử, người ta ít mời một người đệm dương cầm. Theo báo Pháp luật Việt Nam, ca sĩ Ánh Tuyết đã mời ông ra Hà Nội đệm đàn trong một đêm nhạc của mình, và ông trở lại từ đó. Ông từng nói, nếu ông giã từ âm nhạc, là ông có tội với khán giả yêu nhạc mình.
Những năm sau, chiều nào ông cũng ngồi đàn ở một khách sạn lớn ở Sài Gòn, cho tới khi sức khỏe không cho phép nữa. Ông dạy đàn không lấy tiền cho người nào thật lòng yêu nhạc. Ông nói với báo Tiền Phong, ông không để lại tiền bạc, ông chỉ để lại kiến thức cho con, cho cháu.
Lần cuối người ta thấy ông trên sân khấu là ngày hai mươi tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười lăm. Ông ngồi đệm dương cầm cho Khánh Ly hát, ở Biên Hòa. Người ca sĩ năm xưa bảo ông viết tiếp một câu đùa, bây giờ vẫn đứng hát bên tiếng đàn của ông.
Ngày mười bốn tháng tư năm hai nghìn không trăm mười sáu, Nguyễn Ánh Chín mất ở Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, sau một thời gian dài bệnh phổi, bệnh tim. Ông thọ bảy mươi sáu tuổi.
Ông để lại khoảng ba mươi bài hát. Không nhiều. Nhưng ông từng nói, mỗi bài hát là một đứa con tinh thần. Và ông nuôi từng đứa rất kỹ, có đứa nuôi tới năm năm.
Nếu hôm nay bạn nghe lại một bài của Nguyễn Ánh Chín, hãy nghe cả tiếng đàn sau lưng giọng hát. Ở đó có một người đã ngồi suốt đời, lặng lẽ, để người khác được tỏa sáng. Và khi nỗi buồn ghé qua, biết đâu bạn cũng sẽ học được cách của ông. Chào nó một tiếng, rồi tìm niềm vui ngay trong nó.
Tình Ca. Ở đây có bình an.