Những người viết nên Tình Ca · Tập 34
Lê Uyên Phương – Hai căn nhà trên dốc Đà Lạt
Số mười tám và số hai mươi hai
Trên đường Bùi Thị Xuân ở Đà Lạt, có hai căn nhà cách nhau chỉ một căn. Căn số mười tám là nhà trọ của một cô nữ sinh mười sáu tuổi. Căn số hai mươi hai là nhà của một thầy giáo trẻ. Hai người, ngày nào cũng đi ngang qua nhau trên con dốc phố núi.
Báo Giáo Dục Việt Nam kể rằng năm hai nghìn không trăm mười bốn, cô nữ sinh năm nào, giờ đã ngoài sáu mươi tuổi, quay về Đà Lạt. Bà tìm lại căn số mười tám. Người chủ nhà mới vẫn giữ căn nhà gần như nguyên vẹn. Bà ấy kể, đã có lúc định xây lại, nhưng lại thôi, vì cứ mong một ngày người ở cũ sẽ trở về.
Cô nữ sinh ấy là ca sĩ Lê Uyên, tên thật Lâm Phúc Anh. Còn thầy giáo trẻ ở căn bên cạnh, là nhạc sĩ Lê Uyên Phương.
Ông sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, ở Đà Lạt. Về tên khai sinh, các nguồn ghi khác nhau. Báo Dân Việt kể tên ông là Lê Minh Lập, về sau giấy tờ ghi nhầm thành Lê Văn Lộc. Báo Tuổi Trẻ và báo Pháp Luật thì ghi Lê Văn Lộc. Theo báo Dân Việt, gốc gác gia đình ông nửa Huế, nửa Quảng Nam.
Cái bút danh Lê Uyên Phương có một câu chuyện riêng. Theo báo Pháp Luật, chữ Phương là chữ lót trong tên mẹ ông. Còn chữ Uyên là tên người con gái ông thương đầu tiên. Một cái tên ghép từ mẹ và từ mối tình đầu. Mình nghĩ, ít có bút danh nào dịu dàng như vậy.
Thầy giáo dạy triết biết chơi vĩ cầm
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi, khi đang dạy học ở Pleiku, chàng trai mười chín tuổi viết bài hát đầu tay. Bài tên là Buồn Đến Bao Giờ. Ông ký tên Lê Uyên Phương ngay từ bài hát đầu tiên ấy.
Rồi ông về Đà Lạt, dạy môn Triết và môn Việt văn ở trường nữ sinh Virgo Maria. Một thầy giáo dạy triết, lại biết viết nhạc, biết chơi vĩ cầm. Ở một thành phố sương mù, nhiều thông, nhiều dốc, thì một người như thế hẳn là không lẫn vào đám đông được.
Cô Lâm Phúc Anh sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi hai ở Hà Nội. Gia đình gốc Hoa, nhiều đời làm ăn buôn bán. Năm mười sáu tuổi, cô được gửi lên Đà Lạt để học ở trường Virgo Maria. Báo Tuổi Trẻ thì ghi đó là một trường dòng khác. Dù là trường nào, thì cô cũng ở trọ cách nhà ông chỉ một căn.
Theo báo Pháp Luật, lần đầu cô thật sự để ý đến ông là trong một buổi hòa nhạc ở Lữ quán Thanh Niên. Ông đứng trên sân khấu, chơi vĩ cầm. Báo Giáo Dục Việt Nam còn ghi lại lời bà nhớ về lần gặp ông trên phố: tiếng sét ái tình bỗng vang lên khi tôi nhìn vào mắt anh.
Ông hơn cô mười một tuổi. Và ông mang trong người một căn bệnh nặng. Báo Dân Việt kể rằng khi biết điều đó, tình cảm của cô không những không vơi đi, mà còn mạnh mẽ hơn.
Mình nghe chuyện này mà thấy thương cả hai. Một người biết mình không có nhiều thời gian. Một người còn rất trẻ, mà đã chọn ở lại. Từ đây, âm nhạc của Lê Uyên Phương không còn là của riêng một người nữa.
Những bài hát viết cho nhau
Tình yêu của hai người không đi một con đường bằng phẳng. Có một quãng, cô phải về lại Sài Gòn, hai người phải xa nhau. Báo Pháp Luật kể rằng những bài trong tập Khi Loài Thú Xa Nhau được viết vào thời gian ấy, năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám. Khi đó hai người chỉ còn gặp được nhau ở nhà ga, ở bến xe.
Còn bài Lời Gọi Chân Mây, theo báo Giáo Dục Việt Nam, ra đời sau một lần ông tiễn cô ra sân bay Liên Khương để về Sài Gòn. Thử hình dung. Một sân bay nhỏ giữa cao nguyên, mây thấp sát đồi, một chiếc máy bay cất cánh, và một người đứng lại. Người ở lại chỉ còn biết gọi theo, gọi tới tận chân mây.
Rồi cuối cùng, năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, hai người nên vợ nên chồng. Năm sau, ông tách cái tên của mình ra làm hai. Cô lấy nghệ danh là Lê Uyên. Ông là Phương. Đôi song ca Lê Uyên và Phương ra đời từ đó. Báo Tuổi Trẻ viết rằng ông đã cho bà hơn một nửa cái bút danh của mình.
Mình thấy chi tiết ấy rất đẹp. Một người đàn ông chia cho người mình thương một nửa cái tên. Và từ đó, nghe nhạc ông, không ai còn tách được hai giọng hát ấy ra nữa.
Bà Lê Uyên kể với báo Tuổi Trẻ rằng ban đầu, hai người chỉ viết và hát cho nhau nghe, không nghĩ những bài hát ấy sẽ đi xa. Bà cũng kể với báo Pháp Luật rằng ông sáng tác vì sở thích, và vì tình yêu dành cho nhau. Có một bài ông viết riêng tặng vợ, là Tình Khúc Cho Em, bài mà bà rất thích.
Ông còn dạy bà hát. Lời ông dặn bà, mà bà còn nhớ, là phải hát hết lòng, hát trung thực với chính mình. Mình nghĩ, đó cũng là chìa khóa để nghe nhạc Lê Uyên Phương. Không phải nghe để thấy giọng hay. Mà nghe để thấy người hát có thật lòng không.
Một cây đàn, hai giọng hát
Hai người bắt đầu hát ở những quán cà phê Đà Lạt, rồi trên Đài Phát thanh Đà Lạt. Chỉ một cây đàn ghi ta, một giọng nam khàn và trầm, một giọng nữ trong. Báo Tuổi Trẻ gọi đó là một lối hát phóng khoáng, mang hơi hướng nhạc dân ca hiện đại, kiểu một người ôm đàn tự hát những bài mình viết.
Đầu thập niên bảy mươi, đôi song ca từ phố núi xuống Sài Gòn, và trở thành một hiện tượng với giới trẻ thành phố. Hai tập nhạc Khi Loài Thú Xa Nhau và Yêu Nhau Khi Còn Thơ ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm bảy mươi và bảy mươi mốt. Trong đó có những bài như Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Hãy Ngồi Xuống Đây, Vũng Lầy Của Chúng Ta.
Nghe Hãy Ngồi Xuống Đây, mình thấy như có ai kéo ghế mời mình ngồi. Giai điệu chậm, câu hát dài, hơi thở ngân ra như lời thủ thỉ. Hai giọng hát lúc đuổi nhau, lúc hòa vào nhau, như hai người đang nói chuyện. Không có dàn nhạc lớn. Chỉ có tiếng đàn và tiếng người.
Dạ Khúc Cho Tình Nhân thì đúng như cái tên. Dạ khúc là bài hát ban đêm, hát dưới cửa sổ người mình thương. Nhưng dạ khúc của Lê Uyên Phương không vui tươi. Nó có cái nồng nàn của người biết thời gian là thứ quý. Yêu như thể ngày mai không còn nữa.
Theo báo Tuổi Trẻ, bà Lê Uyên kể ông là người đọc Krishnamurti, một triết gia Ấn Độ nói nhiều về sự tự do bên trong và cách sống trọn vẹn với hiện tại. Và bà nói, nhạc ông hướng tới việc chấp nhận thực tại, coi nỗi khổ là một phần của đời sống. Mình nghĩ, đó là lý do nhạc ông buồn mà không bi lụy. Buồn, nhưng tỉnh. Đau, nhưng vẫn ôm lấy đời.
Ngoài ra còn những bài như Chiều Phi Trường, Không Nhìn Nhau Lần Cuối, Còn Nắng Trên Đồi, Cho Lần Cuối. Nghe tên thôi, đã thấy toàn những ga, những sân bay, những lần chia tay. Như thể cả một đời nhạc của ông là một chuỗi những lần tiễn và những lần chờ.
Mang nhạc anh đi
Những năm sau, gia đình ông sống xa quê, định cư ở bang California, nước Mỹ, cùng hai cô con gái. Ông vẫn viết, hai vợ chồng vẫn hát.
Căn bệnh mà ông mang từ thời trẻ vẫn ở đó. Các nguồn ghi khác nhau, có nơi nói ung thư xương, có nơi nói ung thư phổi. Ngày hai mươi chín tháng sáu năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, nhạc sĩ Lê Uyên Phương qua đời ở Mỹ, khi chưa tròn năm mươi tám tuổi.
Báo Giáo Dục Việt Nam ghi lại di nguyện ông để lại cho vợ: em phải sống để mang âm nhạc anh đi khắp nơi có người Việt, và phải tiếp tục hát.
Bà đã làm đúng như vậy. Có một thời gian rất dài, bà phải gượng dậy sau nỗi mất mát. Báo VietNamNet kể bà mất hơn mười năm mới lấy lại được thăng bằng. Rồi bà lại hát. Năm hai nghìn không trăm mười bốn, bà về Đà Lạt, về Sài Gòn. Năm hai nghìn không trăm mười bảy, bà hát nhạc ông ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Bà nói với báo Tuổi Trẻ rằng bà muốn mang những đứa con tinh thần của ông đến với người trẻ còn tin vào tình yêu.
Bà kể với báo VietNamNet rằng đến giờ, mỗi khi phải quyết định điều gì, bà vẫn hỏi ý ông, như khi anh còn sống.
Mình nghĩ, cái còn lại từ Lê Uyên Phương cho người nghe hôm nay, là một cách yêu. Yêu thật lòng, yêu khi biết thời gian có hạn, và hát cho nhau nghe trước khi hát cho cả thế giới. Nhạc ông không dạy người ta yêu cho đúng. Nhạc ông chỉ nhắc: hãy ngồi xuống bên nhau, khi còn có thể.
Lần tới, nếu bạn lên Đà Lạt, đi ngang đường Bùi Thị Xuân, thử nhìn hai căn nhà cách nhau một căn. Ở đó, đã từng có một cô nữ sinh và một thầy giáo, và một mối tình mà đến giờ người ta vẫn còn hát.
Tình Ca. Ở đây có bình an.