Những người viết nên Tình Ca · Tập 33
Phạm Thế Mỹ – Tiếng sáo trúc và đóa hồng
Người cha mua cây đàn
Ở An Nhơn, Bình Định, có một cậu bé rất mê thổi sáo trúc. Cậu thổi hoài, thổi suốt. Người cha nhìn con mà lo. Ông sợ thổi sáo nhiều, hơi phổi yếu đi, con mình sinh bệnh ho. Thế là ông làm một việc mà nhà nghèo lúc ấy không dễ gì làm được. Ông mua cho con một cây đàn ghi ta.
Chuyện ấy được báo Công An Nhân Dân kể lại, khi viết về cuộc đời nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Mình đọc mà thấy thương. Một người cha không hiểu gì nhiều về âm nhạc, chỉ thương con, sợ con ốm. Và vì cái thương ấy, ông đã trao cho con một cây đàn, rồi cây đàn ấy theo con suốt một đời.
Phạm Thế Mỹ sinh ngày mười lăm tháng mười một năm một nghìn chín trăm ba mươi. Ông là con út trong một gia đình nghèo có tới mười ba người con. Hai người anh ruột của ông đều là người cầm bút: nhà thơ Phạm Hổ, người viết rất nhiều thơ cho thiếu nhi, và nhà văn Phạm Văn Ký.
Thử hình dung một ngôi nhà ở miền quê Bình Định, đông con, ít của. Một người anh làm thơ, một người anh viết văn, và cậu em út thì ôm cây đàn. Cái nghèo không làm mất đi chữ nghĩa, cũng không làm mất đi tiếng đàn. Mình nghĩ, đó là một gia đình rất giàu, theo một cách khác.
Cậu bé tự học đàn. Rồi tự viết. Năm mười lăm tuổi, cậu có bài hát đầu tay, tên là Nắng Lên Xóm Nghèo. Báo Công An Nhân Dân kể rằng bài hát ấy đã làm cho tên tuổi cậu được nhiều người biết đến. Báo Tuổi Trẻ cũng nhắc, hành trình âm nhạc của ông bắt đầu từ chính bài hát này.
Nắng lên xóm nghèo. Cái tên bài hát đã là một bức tranh. Một xóm nhỏ, mái tranh thấp, buổi sáng nắng vàng chiếu xuống. Không than nghèo. Chỉ là nắng lên. Một cậu bé mười lăm tuổi, nhìn cái xóm nghèo của mình mà thấy có nắng, thì mình tin cậu ấy sẽ còn viết được nhiều bài hát hiền lành nữa.
Tóc mây và những con thuyền hoa
Lớn lên, Phạm Thế Mỹ vào học trường âm nhạc ở Sài Gòn. Theo báo Tuổi Trẻ, ông học ở đó trong những năm từ một nghìn chín trăm năm mươi tư đến một nghìn chín trăm năm mươi chín. Sau đó ông đi dạy học, có một thời gian dạy ở Đà Nẵng.
Những năm ấy, ông viết nhiều tình ca và nhạc quê hương. Báo Tuổi Trẻ, khi đưa tin ông mất, nhắc rằng trong các tình ca của ông, Tóc Mây là bài được nhiều người nhớ đến nhất.
Tóc mây là cách người xưa gọi mái tóc dài, mềm, đen như mây. Một bài tình ca mà lấy tên là mái tóc, thì người viết hẳn là người rất chịu nhìn. Nhìn từng sợi tóc bay trong gió, nhìn dáng người con gái đi qua. Nghe bài hát, mình thấy cái nhẹ nhàng của một chàng trai miền Trung, thương mà không nói nhiều, chỉ hát.
Rồi có Thuyền Hoa. Rồi Đường Về Hai Thôn. Rồi Chuyến Tàu Về Quê Ngoại. Mấy cái tên ấy, nghe là biết đây là nhạc của một người nhớ quê. Một con thuyền chở hoa, một con đường nối hai thôn xóm, một chuyến tàu đưa đứa cháu về thăm ngoại.
Chuyến Tàu Về Quê Ngoại là bài mình nghĩ ai từng có một tuổi thơ ở quê ngoại cũng sẽ thấy mình trong đó. Tiếng tàu, hàng cây chạy lùi lại phía sau, cánh đồng, rồi cái ngõ nhỏ, rồi bà ngoại đứng chờ. Giai điệu nhịp nhàng như bánh xe lăn trên đường ray. Nghe mà muốn về.
Năm hai nghìn không trăm mười bảy, một đêm nhạc trên truyền hình lấy chủ đề Thương Quá Quê Hương để tôn vinh ông. Báo Tuổi Trẻ kể rằng các ca sĩ đã hát lại Bông Hồng Cài Áo, Chuyến Tàu Về Quê Ngoại, Thuyền Hoa, Đường Về Hai Thôn. Mấy chục năm rồi, những bài hát ấy vẫn được người trẻ hát lại, vẫn làm người nghe nhớ quê.
Nhạc Phạm Thế Mỹ có một cái hiền rất riêng. Ông không dùng chữ cầu kỳ, không làm giai điệu khó. Câu nhạc thường gọn, dễ thuộc, có hơi hướng dân ca miền Trung. Như cậu bé thổi sáo năm nào, lớn lên vẫn giữ trong mình một tiếng sáo quê.
Một đóa hồng cài trên áo
Bây giờ mình kể về bài hát mà có lẽ người Việt nào cũng từng nghe ít nhất một lần. Bài Bông Hồng Cài Áo.
Chuyện bắt đầu từ một bài văn. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, trong một kỳ nghỉ hè ở Mỹ, thiền sư Thích Nhất Hạnh viết một bài văn ngắn về mẹ. Theo trang Làng Mai, nơi lưu giữ các tác phẩm của thiền sư, ông viết bài ấy vào ban đêm, trong một căn chòi gỗ nhỏ, sau những ngày sinh hoạt cùng người trẻ.
Bài văn kể về một phong tục nhỏ: mùa Vu Lan, ai còn mẹ thì cài một bông hoa màu đỏ lên áo, ai đã mất mẹ thì cài một bông hoa màu trắng. Thiền sư kể rằng ông không hề có ý lập ra một phong tục nào. Chỉ là những người học trò ở Sài Gòn chép tay bài văn ra mấy trăm bản để tặng bạn bè, mỗi bản kèm một bông hoa. Từ đó, cái tục cài hoa lan dần đi khắp nơi.
Rồi Phạm Thế Mỹ đọc bài văn ấy. Báo VnExpress cho biết ông phổ nhạc và viết lời dựa trên chính bài văn cùng tên của thiền sư. Các nguồn không ghi rõ năm, nhưng bài hát ra đời vào khoảng giữa thập niên sáu mươi, trong một quãng đời nhiều vất vả của ông.
Nghe Bông Hồng Cài Áo, mình thấy nó giống một lời ru hơn là một bài hát. Giai điệu chậm, đều, êm như tiếng mẹ. Lời ca mượn những hình ảnh rất đơn giản của thiên nhiên, dòng suối, bóng mát, trăng sao, để nói về mẹ. Có một câu mà gần như ai cũng nhớ, trong bài Bông Hồng Cài Áo: Một bông hồng cho em, một bông hồng cho anh.
Câu hát ấy hay ở chỗ nó không dạy ai điều gì. Nó chỉ trao một bông hồng. Rồi để người nghe tự hỏi: mình còn mẹ không? Nếu còn, hôm nay mình đã về thăm mẹ chưa? Cái nhắc nhở nhẹ đến thế, mà làm biết bao người phải lặng đi.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh, khi được hỏi về bài hát, có nói một câu mà trang Làng Mai còn ghi lại. Ông nói nhạc sĩ đã viết bài ấy rất dễ dàng, rất tự nhiên, và mỗi khi nghe, ông không thấy mình và nhạc sĩ là hai người khác nhau. Một bài văn và một bài hát, hòa vào nhau như thế, mình nghĩ hiếm lắm.
Báo Tuổi Trẻ viết rằng bài hát vang lên mỗi mùa Vu Lan, trong nhà và trong chùa, và đã trở thành một ca khúc quen thuộc của âm nhạc Việt Nam. Bao nhiêu ca sĩ đã hát nó, nhiều thế hệ khác nhau. Mà mỗi lần nghe, vẫn như lần đầu.
Ngôi nhà nhỏ và cây đàn
Bông Hồng Cài Áo còn mang lại cho Phạm Thế Mỹ một điều quý nữa. Một người bạn đời.
Có một thời gian ông phụ trách văn nghệ ở Viện Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn. Trong đội văn nghệ ở đó có một cô gái quê Quy Nhơn, tên Diệu Lý. Báo Công An Nhân Dân kể rằng hai người quen nhau khi cô hát chính bài Bông Hồng Cài Áo. Cô kém ông khoảng hai mươi tuổi. Rồi họ làm một đám cưới đơn sơ, và có với nhau hai người con.
Một bài hát về mẹ, lại là sợi chỉ đỏ nối hai con người. Mình nghe chuyện này mà thấy như một cái duyên rất hiền, giống như chính âm nhạc của ông.
Những năm sau, ông làm việc ở Phòng Văn hóa Thông tin quận Tư, Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến khi nghỉ hưu. Bà Diệu Lý thì dạy tiểu học. Cuộc sống giản dị lắm. Báo Công An Nhân Dân còn kể, có một lần vợ chồng ông trả lại một căn nhà nhỏ ở Nhà Bè, để nhường cho một gia đình khác đang khó khăn hơn.
Bà Diệu Lý kể với báo rằng chồng bà từng nói: nhạc của tôi hay dở mới có ý nghĩa với công chúng, còn nhà của tôi to nhỏ thì đâu có ích gì cho mọi người. Và bà nói thêm, đối với chồng bà, âm nhạc không phải danh lợi, mà là chính sinh mạng của ông.
Mình đọc câu ấy mấy lần. Một người đàn ông cả đời không giàu, nhường cả nhà cho người khác, mà điều duy nhất ông quan tâm là bài hát của mình có còn ý nghĩa với ai không. Nghĩ lại cậu bé ở An Nhơn, được cha mua cho cây đàn vì sợ con ốm, thì thấy mọi thứ thật liền mạch.
Bông hồng còn cài trên áo
Đầu thập niên chín mươi, Phạm Thế Mỹ nghỉ hưu. Sức khỏe ông yếu dần. Rồi ông bị đột quỵ, những năm cuối phải nằm một chỗ.
Vậy mà ông vẫn viết. Báo Công An Nhân Dân kể rằng ông vẫn cố hoàn thành những bản trường ca, nghĩa là những tác phẩm dài gồm nhiều chương. Bà Diệu Lý và người con trai ngồi bên, giúp ông ký âm, nghĩa là ghi lại nốt nhạc lên giấy, và thu lại những ca khúc. Một người không còn đi lại được, mà âm nhạc vẫn chảy ra, nhờ bàn tay của vợ con.
Ngày mười sáu tháng một năm hai nghìn không trăm lẻ chín, sau một thời gian dài bệnh, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ qua đời, khi gần tám mươi tuổi.
Mình nghĩ, cái còn lại của Phạm Thế Mỹ cho người nghe hôm nay, là một lời nhắc rất nhẹ. Nhắc về quê, qua một chuyến tàu về ngoại. Nhắc về tình yêu, qua một mái tóc mây. Và nhắc về mẹ, qua một bông hồng nhỏ cài trên áo.
Ông không nói to. Ông chưa bao giờ nói to. Ông chỉ trao một bông hoa, rồi đứng lui lại, để người nghe tự nhìn vào lòng mình.
Mùa Vu Lan tới, nếu bạn được ai đó cài lên áo một bông hồng, thử nhớ đến cậu bé thổi sáo ở An Nhơn, và người cha đã mua cho cậu cây đàn. Còn nếu hôm nay bạn còn mẹ, thì có lẽ, việc nên làm nhất sau khi nghe xong câu chuyện này, là gọi cho mẹ một cuộc điện thoại.
Tình Ca. Ở đây có bình an.