Những người viết nên Tình Ca · Tập 32
Hoàng Nguyên – Người khách ghé chân xứ hoa đào
Một ngày mưa phùn ở Đà Lạt
Một ngày mưa phùn, trời lạnh, ở Đà Lạt. Trong một căn phòng nhỏ, có một người thầy giáo trẻ ngồi bên cây đàn, dạo đi dạo lại một giai điệu chưa xong. Ngồi nghe là một cậu học trò mười mấy tuổi, mắt tròn xoe.
Cậu học trò ấy về sau trở thành nhạc sĩ, nghệ sĩ dương cầm Nguyễn Ánh Chín. Nhiều năm sau, năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, ông viết lại kỷ niệm ấy trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật. Ông kể, năm đó, người thầy của mình đang phác thảo một ca khúc. Ca khúc ấy là Bài Thơ Hoa Đào. Còn người thầy, là nhạc sĩ Hoàng Nguyên.
Báo Thanh Niên còn ghi lại một chi tiết nhỏ trong hồi ức ấy. Cậu học trò hỏi thầy có phải người Đà Lạt không. Thầy trả lời, mình chỉ ghé chân ở đây để mưu sinh và tìm cảm hứng.
Mình đọc câu ấy mà cứ nghĩ mãi. Một người chỉ ghé chân. Vậy mà hơn nửa thế kỷ sau, mỗi khi nhắc đến Đà Lạt mùa hoa, người ta vẫn hát nhạc của người khách ghé chân ấy.
Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc. Năm sinh và quê quán của ông, các tài liệu ghi khác nhau. Nhiều nơi ghi ông sinh ngày ba tháng một năm một nghìn chín trăm ba mươi hai ở Quảng Trị. Nhưng báo Người Lao Động cho biết, theo khai sinh, ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi, quê ở xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Giấy tờ được sửa lại sau này để kịp tuổi đi học.
Từ xứ Huế đi ra
Dù quê gốc ở đâu, tuổi trẻ của Hoàng Nguyên gắn rất chặt với xứ Huế. Ông học ở trường Quốc Học, ngôi trường áo trắng bên bờ sông Hương, rồi có học một thời gian ngắn ở Đại học Huế.
Ở Huế, ông bắt đầu có những bài hát được in. Theo báo Thanh Niên, có bài Anh Đi Mai Về và bài Đàn Ơi Xa Rồi. Một trang tư liệu về văn nghệ Quảng Trị ghi Anh Đi Mai Về ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, khi ông mới chừng hai mươi tuổi, và được nhiều người đón nhận.
Rồi có một bài ông viết riêng cho Huế. Bài Tà Áo Tím. Màu tím là màu của Huế, màu áo của những cô nữ sinh đi dọc bờ sông, màu của hoa bằng lăng, của những buổi chiều trên cầu Tràng Tiền. Hoàng Nguyên không cần nói nhiều. Chỉ một tà áo tím, người Huế nào nghe cũng thấy quê mình.
Nghe Tà Áo Tím, mình thấy cái chất rất riêng của ông. Giai điệu êm, đi chậm, có một chút trang trọng của nhạc tiền chiến, nghĩa là dòng nhạc lãng mạn của những thập niên trước. Nhưng lời thì gần gũi hơn, trẻ hơn. Như một người học trò Huế viết thư cho người mình thương, cẩn thận từng chữ.
Người ta hay nói nhạc Huế là nhạc của sự chậm rãi. Mình nghĩ Hoàng Nguyên mang cái chậm rãi ấy theo suốt đời, kể cả khi ông đã đi rất xa Huế.
Xứ hoa đào
Giữa thập niên năm mươi, Hoàng Nguyên lên Đà Lạt. Ông dạy môn Việt văn ở trường tư thục Tuệ Quang, một ngôi trường do chùa Linh Quang mở. Theo báo Thanh Niên, có nguồn còn nói ông dạy Anh văn ở trường Bồ Đề, và lo chương trình phát thanh cho Hội Phật giáo ở đây.
Cũng ở Đà Lạt, ông gặp cậu học trò trường Yersin, Nguyễn Ánh Chín. Ông dạy nhạc cho cậu, mời cậu đến chơi vào mỗi ngày Chủ nhật, rồi cho cậu vào ban nhạc phát thanh của mình. Một người thầy chẳng hơn học trò là bao nhiêu tuổi, mà đã mở cho cậu cả một con đường. Mình nghĩ, nếu không có những ngày Chủ nhật ấy, có khi chúng ta đã thiếu đi một tiếng đàn dương cầm.
Và trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy, ông viết hai bài hát về Đà Lạt. Ai Lên Xứ Hoa Đào. Và Bài Thơ Hoa Đào. Báo Người Lao Động gọi đây là hai bài hát kinh điển, nằm trong số những ca khúc hay nhất về Đà Lạt thời ấy.
Ai Lên Xứ Hoa Đào mở ra bằng một lời mời rất nhẹ. Câu đầu tiên đã là cả một bức tranh: Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi. Có hồ, có chiều, có một người khách đứng lại. Không vội vàng. Không ồn ào.
Báo Thanh Niên ghi rằng bài hát viết ở giọng trưởng, cũng như Bài Thơ Hoa Đào. Giọng trưởng thường cho cảm giác sáng sủa, tươi. Mà nghe kỹ, mình thấy đúng vậy. Bài hát buồn nhẹ, nhưng là cái buồn của một buổi chiều đẹp, chứ không phải cái buồn của chia ly. Nó giống như hơi lạnh Đà Lạt, se se, dễ chịu, làm người ta muốn khoác thêm áo và ở lại lâu hơn.
Bài Thơ Hoa Đào thì mang hơi hướng kể chuyện hơn. Nó là bài hát mà Nguyễn Ánh Chín đã nghe thầy dạo những nét đầu tiên, trong căn phòng nhỏ, ngày mưa phùn năm ấy. Mình thích nghĩ rằng cái lạnh hôm đó, tiếng mưa hôm đó, cũng đã nằm lại đâu đó trong bài hát.
Mùa xuân Đà Lạt có hoa mai anh đào nở hồng trên các con dốc. Người Đà Lạt vẫn gọi vui đó là hoa đào. Từ hai bài hát của Hoàng Nguyên, cái tên xứ hoa đào đi theo thành phố này cho đến bây giờ.
Sài Gòn và những bài tình
Rồi Hoàng Nguyên rời Đà Lạt. Mấy năm sau, mình gặp lại ông ở Sài Gòn. Ông dạy học ở trường tư thục Quốc Anh, và từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt, theo học ban Anh văn ở trường Đại học Sư phạm.
Ở Sài Gòn, ông được nữ nghệ sĩ Huỳnh Khanh nhận làm em nuôi, rồi kết hôn với con gái bà là cô Ngọc Thuận. Báo Người Lao Động cho biết bài Thuở Ấy Yêu Nhau ra đời vào khoảng thời gian này. Cái tên bài hát đã nói hết: một thuở, có hai người yêu nhau. Nghe như một người đã đi qua nhiều chuyện, giờ ngồi nhìn lại ngày xưa bằng sự dịu dàng.
Rồi đến Cho Người Tình Lỡ. Đây là một bài hát rất đặc biệt trong nhạc Hoàng Nguyên. Báo Thanh Niên gọi đó là một bài hát theo nhịp boston. Boston là một điệu nhảy chậm, ba phách, đung đưa nhẹ, gần với điệu valse nhưng thong thả hơn. Một trang tư liệu khác kể rằng bài hát chịu ảnh hưởng của Summertime, một bài hát nổi tiếng của Mỹ, rất buồn và rất chậm.
Nghe Cho Người Tình Lỡ, mình thấy Hoàng Nguyên đã đi một quãng xa so với những ngày Huế. Giai điệu có chút gì đó rất mới, rất thành thị. Nhưng cái chậm rãi của Huế vẫn còn đó, trong từng chữ được kéo dài. Ca sĩ Thanh Lan thu bài hát này trên một mặt đĩa hát năm một nghìn chín trăm bảy mươi, và giọng hát trong veo của chị làm cho cái buồn ấy trở nên rất sang.
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có một nhận xét mà mình thấy rất đúng. Ông cho rằng Hoàng Nguyên đi từ dòng nhạc lãng mạn tiền chiến sang một thứ tình ca tinh tế hơn, rồi sang nhạc phổ thông hiện đại. Và những chuyện tình trong nhạc ông, theo lời nhà thơ, như muốn vượt lên trên một thực tại u ám.
Cuối thập niên sáu mươi còn có bài Đà Lạt Mưa Bay, ông viết chung với Ngô Xuân Hậu, tự in ở Sài Gòn khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín. Lần này thì ở giọng thứ, buồn hơn. Như thể sau bao nhiêu năm, ông quay lại thăm thành phố cũ, và thấy trời đã mưa.
Người khách đã đi
Ngày hai mươi mốt tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba, Hoàng Nguyên gặp tai nạn xe hơi trên đường giữa Vũng Tàu và Sài Gòn, và qua đời. Khi ấy ông mới ngoài bốn mươi tuổi.
Nguyễn Ánh Chín, cậu học trò năm nào, về sau viết rằng Hoàng Nguyên đã vĩnh viễn ra đi gần nửa thế kỷ, gửi lại cho đời không ít những tác phẩm đáng trân trọng. Một câu viết giản dị, của một người học trò nhớ thầy.
Mình hay nghĩ về hai chữ ghé chân mà ông từng nói. Hóa ra cả đời ông cũng là một chuyến ghé chân. Ghé Huế, để lại Tà Áo Tím. Ghé Đà Lạt, để lại hai bài hát hoa đào. Ghé Sài Gòn, để lại Thuở Ấy Yêu Nhau và Cho Người Tình Lỡ. Mỗi nơi ông đi qua, đều có một bài hát ở lại.
Cái còn lại cho người nghe hôm nay, có lẽ là cách ông nhìn một thành phố. Ông không tả nhiều. Một hồ nước, một buổi chiều, một tà áo, một cơn mưa bay. Vậy mà người nghe tự vẽ ra được cả một vùng trời. Đó là cái tài của người biết dừng lại đúng lúc.
Lần tới, nếu bạn lên Đà Lạt vào mùa xuân, khi mai anh đào nở hồng trên dốc, thử dừng chân bên hồ một chút. Nghe chiều rơi. Và nhớ đến người thầy giáo trẻ, ngày mưa phùn, ngồi dạo đàn cho cậu học trò nghe.
Tình Ca. Ở đây có bình an.