Những người viết nên Tình Ca · Tập 30
Hoàng Dương – Quầng sáng phía chân trời
Quầng sáng phía chân trời
Một đêm ở vùng ngoại thành. Một chàng trai đứng nhìn về phía xa. Ở đó, nơi chân trời, có một quầng sáng mờ mờ. Đó là ánh đèn của Hà Nội.
Năm hai nghìn không trăm mười bốn, ông kể lại với báo Việt Nam News, tờ báo tiếng Anh ở Hà Nội. Ông nói đại ý rằng ông nhìn về phía Hà Nội, thành phố hiện ra nơi chân trời như một quầng sáng, rất xa, mà rất gần trong lòng.
Rất xa, mà rất gần. Có lẽ ai từng xa nhà đều hiểu cảm giác đó.
Chàng trai ấy là Hoàng Dương. Tên đầy đủ là Ngô Hoàng Dương. Theo báo VnExpress, ông sinh ngày mười hai tháng mười năm một nghìn chín trăm ba mươi ba, ở Từ Liêm, Hà Nội.
Cha ông là nhà văn Trúc Khê, tên thật là Ngô Văn Triện. Lớn lên trong một nhà có sách, có chữ, cậu con trai lại đi theo một con đường khác: con đường của tiếng đàn.
Đó không phải lần đầu ông phải xa Hà Nội. Năm mười bốn, mười lăm tuổi, ông đã một lần rời thành phố về sống ở vùng quê. Ông kể, từ Vân Đình nhìn về Hà Nội thì gần lắm, quầng sáng ở Hà Nội gây một nỗi nhớ ghê gớm.
Vậy là hai lần xa Hà Nội, hai lần đứng nhìn một quầng sáng. Nỗi nhớ ấy cứ tích lại trong ông, như nước dồn sau một con đê.
Và rồi, vào khoảng cuối năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, đầu năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, con đê ấy vỡ ra thành một bài hát.
Một đêm, một bài hát
Lúc ấy ông mới hai mươi tuổi, đang trọ trong một nhà dân ở ngoại thành.
Ông kể lại, theo bài đăng trên trang của Hội Nhạc sĩ Việt Nam: tôi viết bài này chỉ có trong một đêm, tất cả nỗi nhớ nó vò xé trong tâm trạng mình.
Một đêm. Không sửa đi sửa lại nhiều năm như nhiều bài hát khác. Ông còn nói với một trang nhạc khác rằng ông viết rất nhanh, cảm xúc cứ thế tự nhiên đến.
Báo Quảng Ninh còn dẫn lời ông nói rằng nỗi nhớ ấy tích tụ trong hai giai đoạn xa Hà Nội, rồi cô đọng lại trong những câu hát. Tức là một đêm để viết, nhưng là cả mấy năm trời để nhớ.
Nhưng trong nỗi nhớ Hà Nội ấy, không chỉ có phố phường. Còn có một người.
Ông có một cô bạn gái thân thiết. Hai người hay cùng nhau đi ngắm Hồ Tây, hồ Trúc Bạch. Rồi xa nhau, rồi mất liên lạc.
Báo chí kể ông đã đi tìm cô rất nhiều lần, có lần đi tận vào miền Nam để dò hỏi, mà không có tin tức gì. Sau này, khi đã lập gia đình, ông vẫn giữ tấm ảnh cũ trong nhà. Vợ ông biết, và bà không nói gì.
Mình đọc tới chi tiết ấy thì ngồi im một lúc. Một người vợ biết chồng giữ ảnh một người con gái năm xưa, mà không nói gì. Có lẽ bà hiểu rằng tấm ảnh ấy không lấy đi điều gì của bà. Nó chỉ là tuổi hai mươi của chồng mình.
Bài hát lúc đầu có tên là Nhớ Người Con Gái Hà Nội. Về sau ông đổi thành Hướng Về Hà Nội, vì ông muốn nói về cả thành phố, chứ không chỉ một người.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, nhà xuất bản Tinh Hoa in bài hát, bìa do họa sĩ Duy Liêm vẽ. Ở đầu bản nhạc, ông ghi lời đề tặng nhạc sĩ Hoàng Trọng, người ông quý mến.
Người hát đầu tiên là danh ca Kim Tước, trên làn sóng phát thanh ở Hà Nội. Từ đó, bài hát đi xa. Thái Thanh hát, Mai Hương hát, Duy Trác hát, rồi về sau là Tuấn Ngọc, Ánh Tuyết, Hồng Nhung.
Bài mở ra bằng một tiếng gọi: Hà Nội ơi, những ngày vui đã ra đi. Không vòng vo. Gọi thẳng tên thành phố, như gọi tên một người thân.
Giai điệu đi chậm, buồn, giọng thứ, có những chỗ vút lên rồi lặng xuống, như một tiếng thở dài. Có lúc người hát phải ngừng lại một nhịp, để nỗi nhớ kịp đến.
Có một lần, ông gặp nhà thơ Quang Dũng, người viết bài thơ Mắt Người Sơn Tây. Theo lời kể được ghi lại, Quang Dũng bảo ông rằng tuy mới gặp lần đầu, mà tâm hồn hai người đã rất giống nhau. Một nhà thơ nhớ quê Sơn Tây, một nhạc sĩ nhớ phố phường Hà Nội. Có lẽ họ nhận ra nhau ở chính nỗi nhớ.
Có một quãng khá dài, bài hát ít được hát. Rồi những năm cuối thế kỷ hai mươi, nó trở lại, và người ta nhận ra mình vẫn còn thuộc.
Nhưng có một điều lạ. Người viết ra bài hát nổi tiếng ấy, về sau lại rất ít viết ca khúc. Ông chọn một cây đàn khác để nói.
Người ngồi sau cây đàn cello
Cây đàn cello, hay còn gọi là vĩ cầm trầm, to gần bằng một người. Người chơi phải ngồi, ôm nó vào lòng, kéo vĩ qua những sợi dây. Tiếng của nó trầm, ấm, gần với giọng người nhất trong các loại đàn dây.
Hoàng Dương được đào tạo bài bản về cello ở nước ngoài. Về nước, ông là người có công đầu xây dựng bộ môn cello và khoa đàn dây ở Nhạc viện Hà Nội, nay là Học viện Âm nhạc ở Hà Nội.
Ông dạy ở đó hơn bốn mươi năm. Nhiều thế hệ người chơi cello của Việt Nam đã ngồi trong lớp của ông.
Nhạc sĩ Nguyễn Thị Minh Châu, người quen ông từ hồi còn nhỏ vì ông là cha của một bạn cùng lớp, viết rằng ông là người nghiêm khắc, có vẻ uy quyền. Nhưng bà cũng kể ông thương con vô cùng, có lần xa con, ông viết thư cho con suốt dọc đường tàu, mỗi ga lại gửi một lá dặn dò tỉ mỉ.
Nghiêm khắc bên ngoài, mà bên trong thì dặn dò từng ga tàu. Mình thấy người viết Hướng Về Hà Nội vẫn còn đó, chỉ là ít nói hơn.
Những tác phẩm ông viết về sau phần lớn là nhạc không lời. Có Hát Ru cho vĩ cầm. Có Mơ Về Trái Núi Thiên Thai cho cello và piano. Có Tiếng Hát Sông Hương cho cello và dàn nhạc. Có Vũ Khúc Mùa Xuân, Bài Ca Không Lời.
Nhiều bài trong số đó được phát triển từ những làn điệu dân ca. Tức là ông lấy một câu hát ru, một câu hò, rồi để cây đàn hát thay lời. Không cần chữ, người nghe vẫn nhận ra quê nhà.
Mình thích nhất cái tên Mơ Về Trái Núi Thiên Thai. Thiên Thai là chốn tiên trong tích xưa, nơi hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu lạc vào, rồi khi trở về thì trần gian đã qua mấy đời. Chỉ cái tên thôi đã gợi một nơi rất xa, rất yên. Và tiếng cello trầm ấm, gần với giọng người, có lẽ là giọng hợp nhất để kể về một giấc mơ như thế.
Ông vẫn có vài ca khúc khác, như Tiếc Thu, Chiều Cuối Năm. Báo chí còn ghi ông từng đặt lời cho một số bài của nhạc sĩ Hoàng Trọng, dù mỗi nguồn kể tên bài một khác.
Theo nhạc sĩ Minh Châu, ông ít khi tự biểu diễn tác phẩm của chính mình. Ông để học trò chơi, để con cái chơi.
Mà con cái ông đều theo nghề đàn. Con trai ông, nghệ sĩ cello Ngô Hoàng Quân, và con dâu là nghệ sĩ cello Trần Thị Mơ, tiếp tục con đường của cha. Một mái nhà mà tiếng cello truyền từ đời này sang đời khác.
Cuối năm hai nghìn không trăm mười sáu, trước khi sức khỏe ông yếu đi, các con và học trò đã làm một buổi hòa nhạc toàn những tác phẩm của ông. Như một lời cảm ơn được nói ra khi người thầy còn ngồi nghe.
Hà Nội tiễn ông
Ông mất vào đêm ngày ba mươi tháng một năm hai nghìn không trăm mười bảy, đúng mùng Ba Tết. Ông đã ngoài tám mươi tuổi.
Sáng ngày hai tháng hai, ở nhà tang lễ Cầu Giấy, Hà Nội, đồng nghiệp và học trò tới tiễn ông. Báo VnExpress kể rằng suốt buổi lễ, nhạc nền là bài Hướng Về Hà Nội.
Mình nghĩ tới hình ảnh ấy hoài. Bảy mươi năm trước, một chàng trai đứng ở ngoại thành, nhìn về Hà Nội mà nhớ. Bảy mươi năm sau, chính Hà Nội ngồi lại, nghe bài hát của chàng, để tiễn chàng đi.
Nhạc sĩ Nguyễn Cường viết vào sổ tang: thương tiếc vô cùng người thầy lớn của chúng tôi.
Ông được an táng ở nghĩa trang Phương Canh, thuộc Từ Liêm, Hà Nội. Từ Liêm, đúng nơi ông đã sinh ra.
Vậy là sau bao nhiêu năm hướng về, cuối cùng ông đã ở hẳn trong lòng thành phố.
Điều còn lại cho mình hôm nay là gì? Có lẽ là một lời nhắc rằng nỗi nhớ không phải là thứ yếu đuối. Nỗi nhớ có thể thành bài hát. Có thể thành một đời dạy đàn. Có thể thành tiếng cello của con cháu.
Và nếu có lúc nào mình đang ở xa, nhìn về một quầng sáng nơi chân trời, thì mình biết là có người đã từng đứng như vậy, và đã viết ra điều mình không nói được.
Tình Ca. Ở đây có bình an.