Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 28

Hùng Lân – Người thầy viết mùa hè cho học trò

Cái tên ghép từ hai người em

Có một người viết nhạc chọn cho mình một cái tên không phải để cho đẹp, mà để nhớ. Ông có hai người em trai, em thứ năm và em thứ tám, đều mất sớm. Ông lấy một chữ trong tên người em này, một chữ trong tên người em kia, ghép lại thành bút danh của mình. Cái tên ấy là Hùng Lân.

Mình nghĩ thử mà xem. Suốt đời, mỗi lần ông ký tên dưới một bản nhạc, là mỗi lần ông gọi tên hai đứa em. Mỗi lần người ta hát bài của ông, người ta cũng vô tình gọi tên hai đứa trẻ ấy. Một cách nhớ thương lặng lẽ mà bền bỉ.

Hùng Lân sinh ngày hai mươi ba tháng sáu năm một nghìn chín trăm hai mươi hai, ở phố Phủ Doãn, Hà Nội. Tên trong giấy tờ của ông là Hoàng Văn Hường. Có nguồn ghi tên lúc nhỏ của ông là Hoàng Văn Cường. Ông là con thứ tư trong một gia đình đông con, theo đạo Công giáo.

Từ khoảng tám tuổi, cậu bé đã hát trong ban hợp xướng của Nhà thờ Lớn Hà Nội. Ban hợp xướng là một nhóm đông người cùng hát, chia nhiều bè, giọng cao giọng thấp quyện vào nhau. Cậu được học nhạc với các linh mục người Pháp, từ năm tám tuổi cho tới năm hai mươi hai tuổi. Mình hình dung một buổi sáng chủ nhật ở Hà Nội. Nhà thờ Lớn mái vòm cao, tiếng đàn ống vang lên, rồi cả ban hợp xướng cất tiếng. Giữa những người lớn có một cậu bé tám tuổi, đứng nghe giọng mình hòa vào giọng người khác. Có lẽ cậu học được từ rất sớm rằng một tiếng hát hay nhất là khi nó biết lắng nghe những tiếng hát xung quanh. Cái nền nhạc ấy rất vững. Nó theo ông suốt đời.

Người thầy trẻ ở trường Chu Văn An

Ông học ở các trường của người Pháp ở Hà Nội, có thời học ở chủng viện. Nhưng con đường của ông không phải là áo dòng. Con đường của ông là bục giảng và cây đàn.

Những năm bốn mươi, khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã đi dạy nhạc ở trường Chu Văn An, Hà Nội. Có nguồn ghi ông dạy ở đó từ năm một nghìn chín trăm bốn mươi tư, có nguồn ghi năm bốn mươi tám. Học trò của ông ở ngôi trường này, về sau có những người trở thành nghệ sĩ rất nổi tiếng, như nghệ sĩ Quý Dương, Trần Hiếu.

Ông bắt đầu được biết đến từ rất sớm. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, mới hai mươi mốt tuổi, ông có bài Rạng đông đoạt giải của một hội khuyến khích âm nhạc ở Hà Nội. Người trẻ thời ấy hát nhạc của ông trong những buổi sinh hoạt, những chuyến đi chơi xa.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, ông lập một ca đoàn nhà thờ mang tên Lê Bảo Tịnh, và làm trưởng ca đoàn. Ca đoàn ấy về sau đi một chặng đường rất dài, in được nhiều tập thánh ca.

Năm một nghìn chín trăm năm mươi mốt, ông nên duyên với bà Nguyễn Thị Dung, một nữ ca sĩ. Hai ông bà có sáu người con gái và một người con trai. Một nhà toàn tiếng hát.

Những năm sau, ông vào sống ở Sài Gòn. Ở đó, ông tiếp tục làm điều mình giỏi nhất: dạy nhạc.

Hè về và tiếng hát đuổi nhau

Bây giờ mình nói về bài hát mà nhiều thế hệ học trò còn nhớ, bài Hè về. Có nguồn ghi bài này ra đời năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín. Những năm năm mươi, học trò khắp nơi hát Hè về mỗi khi phượng nở, ve kêu. Rồi những người lớn lên trong thập niên bảy mươi, tám mươi vẫn còn biết bài này.

Hè về là một bức tranh mùa hè vẽ bằng nốt nhạc. Có hoa phượng đỏ, có lúa vàng, có mây trắng, có hương sen, có cánh én, có tiếng ve, có lũy tre. Lời bài hát dài, nhiều hình ảnh, nhưng hình ảnh nào cũng rõ, cũng tươi. Người ta còn lấy lời bài hát này làm ví dụ để dạy học trò cách viết văn cho có hình, có màu.

Cái hay nhất của Hè về nằm ở điệp khúc. Ông viết theo lối hát đuổi, nghĩa là một giọng hát trước, giọng kia đuổi theo sau, như hai đứa trẻ chạy đuổi nhau trên bờ ruộng. Giọng nữ hát cao, giọng nam hát thấp. Hai giọng quấn quýt nhau, rộn ràng. Nghe như tiếng ve râm ran từ cây này sang cây khác.

Đó là cái tai của một người lớn lên trong ban hợp xướng nhà thờ. Ông quen nghe nhiều giọng hát chồng lên nhau. Ông biết làm sao để nhiều người cùng hát mà vẫn vui, vẫn trong. Cho nên Hè về rất hợp để cả lớp, cả trường cùng hát.

Nhịp của bài hát khá phức tạp, không dễ hát cho tròn. Nhưng giai điệu lại sáng, vui, trong trẻo. Bản thu sớm nhất còn giữ được là của ca sĩ Ngọc Bảo. Về sau có bản song ca của Minh Trang và Trần Văn Trạch.

Danh ca Quỳnh Giao từng nhận xét rằng Hùng Lân viết lời nhanh và trôi chảy, như người ta xâu một chuỗi hạt ngọc. Nghe Hè về, mình hiểu vì sao. Chữ nào cũng nằm đúng chỗ, câu này nối câu kia không vấp.

Ông trăng, con cò và đêm thánh

Hùng Lân viết rất nhiều cho trẻ con. Những bài như Em yêu ai, Thằng Tí sún, Con cò, Ông trăng thu. Chỉ nghe tên thôi đã thấy một thế giới tuổi thơ. Thằng Tí sún là cậu bé răng sún hay cười. Ông trăng thu thì gợi ánh trăng tròn của những đêm thu. Con cò là con cò trắng bay trên ruộng lúa.

Viết cho trẻ con không dễ. Phải giản dị mà không nhạt. Phải vui mà không ồn. Phải để trẻ hát được, mà người lớn nghe cũng thấy thương. Một người thầy cả đời đứng trên bục giảng, quen với tiếng cười của học trò, thì hiểu điều đó hơn ai hết.

Ông cũng viết những bài tâm tình, như Sầu lữ thứ, nỗi buồn của người đi xa, hay Hận Trương Chi, kể lại chuyện chàng lái đò có giọng hát hay mà mối tình không thành. Ông còn có những bài về thiên nhiên như Vườn xuân, Trăng lên.

Và có một bài mà có lẽ mỗi mùa Giáng sinh, rất nhiều người Việt đều đã từng nghe, dù không biết tên người viết lời. Đó là Đêm thánh vô cùng. Đây là lời Việt do Hùng Lân viết cho bài Silent Night, tức Đêm yên lặng, một bài hát mừng Giáng sinh rất nổi tiếng, vốn ra đời ở nước Áo.

Bài này có nhiều bản lời Việt khác nhau, nhưng bản Đêm thánh vô cùng của ông là bản được hát nhiều nhất, suốt hơn bảy mươi năm. Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng. Chỉ một câu mở đầu ấy mà nghe đã thấy ánh nến, thấy tiếng chuông, thấy một đêm yên lành. Lời của ông vừa trang nghiêm, vừa ấm, rất thuận với giai điệu gốc, hát lên không bị ngọng chữ.

Ngoài ra ông còn viết nhiều tập thánh ca, và khoảng tám mươi bài thánh vịnh. Người ta ước tính cả đời ông viết khoảng chín trăm tác phẩm, nhiều bản đã thất lạc.

Người đi tìm tiếng hát của dân gian

Ông không chỉ viết nhạc. Ông còn là một người nghiên cứu. Năm bốn mươi mốt tuổi, ông vẫn đi học, và tốt nghiệp cử nhân văn chương Pháp. Ông soạn sách giáo khoa âm nhạc cho học trò, soạn sách nhạc lý cho người học đàn.

Nhưng có lẽ đáng nhớ nhất là những cuốn sách ông viết về dân ca. Tìm hiểu dân nhạc Việt Nam. Nhạc ngữ Việt Nam. Tìm hiểu dân ca Việt Nam. Một người học nhạc từ các linh mục người Pháp, lớn lên trong tiếng hát nhà thờ, cuối cùng lại dành nhiều năm đi tìm cái hồn của câu hò, câu lý Việt Nam.

Ông dạy ở nhiều trường. Những năm đầu thập niên bảy mươi, ông dạy sư phạm âm nhạc ở Đà Lạt, tức là dạy cho những người sắp đi dạy nhạc. Người thầy dạy người thầy. Người ta tả ông là một người thầy tận tâm, đứng đắn, nhưng tính tình hòa nhã, vui vẻ.

Cuối đời, ông dạy nhạc và nghiên cứu ngay tại nhà mình ở Sài Gòn. Ông vẫn viết dở một cuốn sách nhạc lý, viết cho tới những năm cuối cùng. Ông mất ngày mười bảy tháng chín năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, khi sáu mươi bốn tuổi.

Mình quay lại với cái tên Hùng Lân. Một cái tên ghép từ hai người em đã mất. Người anh ấy đã sống cả một đời để cái tên ấy được hát lên trong lớp học, trong nhà thờ, trong những ngày hè có tiếng ve.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ rất giản dị. Mùa hè nào cũng sẽ đến rồi đi. Nhưng có những bài hát làm cho mùa hè của tuổi thơ mình còn mãi. Và có những người thầy, mình quên mất tên, mà câu hát họ dạy thì mình vẫn còn thuộc.

Hè này, nếu nghe tiếng ve, mình thử hát lại vài câu của một bài hát cũ về mùa hè. Hát cùng ai đó, hát đuổi nhau như hồi còn đi học.

Tình Ca. Ở đây có bình an.