Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 27

Nguyễn Văn Thương – Đêm giao thừa của chàng trai xa nhà

Phố Khâm Thiên đêm giao thừa

Hà Nội, đêm giao thừa năm một nghìn chín trăm ba mươi chín. Phố xá vắng dần. Nhà nhà đã đóng cửa đón năm mới. Có một chàng trai hai mươi tuổi, người Huế, đi lang thang một mình. Chàng không có tiền mua vé tàu về quê ăn Tết. Đây là lần đầu tiên chàng đón Tết xa nhà.

Chàng đi qua phố Khâm Thiên. Thời ấy, đó là nơi có nhiều nhà hát ả đào, những nơi có các cô đào hát và người kép đàn. Đêm lạnh. Có người ca nhi, tức là người làm nghề đàn hát, vẫn đứng đợi khách giữa trời rét. Chàng trai nhìn thấy, rồi lặng lẽ về căn phòng trọ.

Đêm ấy, trong căn phòng trọ nhỏ, chàng bắt đầu viết một bài hát. Bài hát về một đêm đông, về một người lữ khách cô đơn, về nỗi nhớ nhà. Bài hát ấy là Đêm đông. Chàng trai là Nguyễn Văn Thương.

Có một chi tiết nhỏ mà về sau ông kể lại. Hồi đó ở Hà Nội có cửa hàng Đông Phát bán đàn. Ông mê cây đàn ghi ta Hạ Uy Di, tức loại ghi ta đặt nằm ngang, dùng một thanh kim loại trượt trên dây cho tiếng ngân rên rỉ, rất được ưa chuộng thời ấy. Nhưng ông không đủ tiền mua. Không tiền mua đàn, không tiền mua vé tàu. Chỉ còn tiếng nhạc trong đầu là của mình.

Có lẽ chính cái nghèo, cái lạnh, cái xa nhà của đêm ấy đã làm nên một bài hát mà gần một trăm năm sau người ta vẫn hát. Mình sẽ quay lại với Đêm đông. Nhưng trước hết, mình kể về con sông đã nuôi lớn chàng trai ấy.

Đêm trăng trên sông Hương

Nguyễn Văn Thương sinh năm một nghìn chín trăm mười chín, ở vùng Hương Thủy, xứ Huế. Gia đình ông là gia đình công chức. Cả cha và mẹ đều yêu nhạc, đều biết chơi đàn. Nên trong nhà ông, tiếng đàn là thứ quen thuộc như tiếng chim buổi sáng.

Từ năm chín tuổi, cậu bé đã học đàn nguyệt để chơi ca Huế. Đàn nguyệt là cây đàn có thân tròn như mặt trăng, hai dây, cần dài. Ca Huế là lối hát thính phòng của xứ Huế, êm, chậm, buồn man mác, thường được hát trên những chiếc thuyền đêm trên sông Hương. Rồi cậu học thêm nhạc cụ phương Tây. Phần nhiều là tự học.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu, ông mười bảy tuổi. Vừa học xong, ông cùng bạn bè thuê thuyền đi chơi trên sông Hương một đêm trăng. Về nhà, ông viết bài Trên sông Hương. Đó là ca khúc đầu tay của ông.

Có một chuyện vui. Bài hát hay và trầm tới mức nhiều người nghe, có cả những ca sĩ ở nước ngoài, cứ tưởng tác giả phải là một người lớn tuổi lắm. Ít ai ngờ đó là một cậu học trò vừa tròn mười bảy.

Mình nghe Trên sông Hương sẽ thấy chất Huế trong từng câu. Giai điệu đi chậm, lững lờ như con thuyền xuôi dòng. Có những chỗ luyến láy rất giống ca Huế, cái lối ngân một chữ qua nhiều nốt, uốn éo, mềm mại. Đó là cái tai của một cậu bé đã ôm đàn nguyệt từ năm chín tuổi. Tân nhạc của ông khi ấy mới mẻ, nhưng hồn thì vẫn là hồn sông Hương.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, gia đình gửi ông ra Hà Nội học ở trường Thăng Long. Từ dòng sông êm của Huế, chàng trai bước vào một thành phố lạ. Và rồi đêm giao thừa ấy đã tới.

Bài hát của người lữ khách

Trở lại với căn phòng trọ đêm giao thừa. Đêm đông là bài hát của nỗi cô đơn. Không phải cô đơn vì tình. Mà là cái cô đơn của một người trẻ lần đầu xa nhà, đứng giữa phố lạ, nhìn người ta sum họp.

Ông từng giải thích rằng những hình ảnh trong bài hát là có thật, hoặc là của chính ông. Người ca nhi là người ông nhìn thấy trên phố đêm ấy. Người lữ khách cô đơn chính là ông. Còn tiếng chuông trong bài hát, ông nói, không phải chuông nhà thờ. Đó là tiếng chuông chùa, tiếng mõ tụng kinh đêm giao thừa.

Chi tiết ấy làm mình nghe bài hát khác đi. Tiếng chuông chùa đêm giao thừa ở Hà Nội, ngân trong sương lạnh, vọng vào một căn phòng trọ có chàng trai xứ Huế ngồi một mình. Không cần nói nhớ mẹ, nhớ nhà, mà cả bài hát là nỗi nhớ ấy.

Về lời, theo báo Pháp Luật Việt Nam, sau một thời gian, ông cùng Kim Minh, một người từng học ghi ta với ông, trau chuốt lại lời ca. Nguồn ấy chỉ nói Kim Minh góp tay chỉnh lời, không ghi là đồng tác giả. Phần nhiều các bản in và các bài viết đều ghi Đêm đông là của Nguyễn Văn Thương.

Ban đầu, ông viết Đêm đông theo điệu tango, một điệu nhảy có nhịp dứt khoát, từng bước như giật, ra đời ở nước Argentina. Mình nghe bản tango sẽ thấy nỗi buồn có phần kiêu hãnh, như một người đi trong đêm mà không cúi đầu.

Giai điệu bài hát có những quãng đi lên rồi chùng xuống rất đột ngột, như hơi thở nghẹn lại. Những chữ cuối câu thường được ngân dài, để cái lạnh của đêm đông thấm vào.

Cô ca sĩ mười lăm tuổi

Gần hai mươi năm sau ngày ra đời, Đêm đông có một cuộc đời mới. Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, ở một phòng trà tên là Kim Sơn, có một cô ca sĩ mới mười lăm tuổi. Cô tên Bạch Yến.

Theo báo Pháp Luật Việt Nam, cô bé tự ý đổi Đêm đông từ điệu tango sang điệu slow rock, một điệu chậm, có tiếng trống nhấn đều ở mỗi phách, rất hợp để hát những bài buồn. Cô tự dàn dựng tiết mục của mình. Đêm ấy, khi cô hát, cả phòng trà lặng đi. Khi bài hát kết thúc, khán giả đứng dậy vỗ tay.

Từ đó, Đêm đông thành bài hát được yêu cầu nhiều nhất trong các đêm diễn của Bạch Yến. Người ta gắn bài hát với giọng hát của cô suốt nhiều chục năm. Về sau còn có những bản thu rất được yêu thích của Thanh Thúy, Lệ Thu.

Mình nghĩ đó là cái lạ của một bài hát hay. Nó được viết trong một đêm cô đơn của một chàng trai hai mươi tuổi. Rồi gần hai mươi năm sau, một cô bé mười lăm tuổi hát lại theo cách của mình, và bài hát như được thở thêm một hơi nữa. Bài hát đã rời khỏi người viết, và đi con đường riêng của nó.

Trong khoảng thời gian ấy, ông còn viết bài Bướm hoa, năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai. Bài hát nhẹ nhàng, tươi tắn, có cánh bướm, có vườn hoa. Một màu sắc khác hẳn với đêm đông lạnh lẽo.

Người thầy của nhiều giọng hát

Những năm sau, ông dành phần lớn đời mình cho khí nhạc, tức là nhạc chỉ có đàn, không có lời, và cho việc dạy nhạc. Ông từng sang học ở Nhạc viện Leipzig, nước Đức. Ông viết cho dàn nhạc giao hưởng, viết cho đàn và sáo, viết nhạc cho múa. Người ta nói ông là một trong những người đầu tiên ở nước mình viết nhạc cho múa.

Ông có một bản nhạc cho đàn cello và dương cầm, tên là Trở về đất mẹ. Đàn cello là cây đàn dây lớn, kẹp giữa hai gối, tiếng trầm ấm như giọng người. Bản nhạc ấy được nhiều nghệ sĩ trong và ngoài nước đưa vào chương trình biểu diễn, rồi được phối cho dàn dây và dựng thành múa. Ông cũng viết bản độc tấu sáo Ngày hội non sông, rộn ràng tiếng sáo và tiếng trống.

Từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín đến năm một nghìn chín trăm tám mươi ba, ông làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội, nơi nay đã thành một học viện âm nhạc lớn. Ông được nhớ đến như một người có biệt tài phát hiện và nâng đỡ người có năng khiếu. Nhiều ca sĩ về sau rất nổi tiếng từng là học trò của ông, như Quang Thọ, Thu Hiền, Thái Bảo, Xuân Bình.

Ông mất năm hai nghìn lẻ hai. Năm hai nghìn mười chín, đúng một trăm năm ngày ông sinh ra, nhiều học trò của ông, trong đó có Quang Thọ, Thu Hiền, Thái Bảo, cùng đứng trên sân khấu ở Hà Nội để hát lại nhạc của thầy. Đêm nhạc ấy mang tên Trở về đất mẹ.

Mình hay nghĩ tới chàng trai đêm giao thừa năm nào. Không tiền mua đàn, không tiền về quê. Vậy mà từ cái nghèo ấy, ông để lại cho đời một bài hát, rồi cả một đời dạy người khác hát.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ là điều này. Nỗi cô đơn không phải lúc nào cũng xấu. Có những đêm một mình, lòng mình mới đủ yên để nghe được tiếng chuông chùa xa xa. Và có khi, từ một đêm lạnh nhất, người ta viết ra được điều ấm áp nhất.

Lần tới, nếu nghe Đêm đông, mình thử để ý tiếng chuông trong bài hát. Đó là tiếng chuông chùa đêm giao thừa, vọng vào một căn phòng trọ nhỏ ở Hà Nội.

Tình Ca. Ở đây có bình an.