Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 26

Văn Phụng – Tiếng dương cầm và suối tóc

Buổi sáng có tiếng đàn trên lầu

Hải Phòng, một buổi sáng năm một nghìn chín trăm năm mươi hai. Trong một ngôi nhà hai tầng, có tiếng dương cầm vọng xuống từ trên lầu. Người con trai thuê căn dưới nhà nghe thấy, không cưỡng được, bước lên cầu thang. Ở đó, một cô gái mười bảy tuổi đang ngồi bên đàn. Mái tóc cô dài, buông xuống như một dòng suối.

Chàng trai hai mươi hai tuổi ấy xin được ngồi vào đàn. Rồi chàng ngẫu hứng chơi một giai điệu, ngay tại chỗ. Chơi xong, chàng đặt tên cho khúc nhạc theo mái tóc của cô gái. Khúc nhạc ấy về sau là bài Suối tóc. Chàng trai là Văn Phụng. Cô gái về sau là danh ca Châu Hà.

Có một chi tiết nhỏ mà một chương trình phát thanh tiếng Việt ở nước Úc kể lại. Bản nhạc cô gái chơi hôm ấy là nhạc của Debussy, một nhà soạn nhạc người Pháp, viết những khúc nhạc mơ màng như sương sớm. Cô vừa hong tóc vừa chơi đàn. Mình thử nghĩ coi, có buổi sáng nào nên thơ hơn.

Nhưng câu chuyện của hai người không dễ dàng như một buổi sáng. Phải rất nhiều năm sau, họ mới về chung một nhà. Mình sẽ kể từ từ. Trước hết, mình kể về chàng trai biết chơi đàn ấy đã.

Cậu bé ở Nhà hát Lớn

Văn Phụng tên đầy đủ là Nguyễn Văn Phụng. Ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi, ở Hà Nội, trong một gia đình có bốn anh chị em. Từ nhỏ, ông đã được học dương cầm.

Năm mười lăm tuổi, cậu bé Văn Phụng đoạt giải nhất một cuộc thi độc tấu dương cầm ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Mình hình dung một cậu bé ngồi trước cây đàn to, trong một khán phòng sang trọng, đèn chùm sáng rực. Cậu chơi xong, cả khán phòng vỗ tay. Có lẽ từ giây phút ấy, cậu biết mình sẽ sống với đàn.

Nhưng người cha muốn cậu học thuốc. Năm mười sáu tuổi, học xong trung học, cậu vào học y theo ý cha. Học được một năm, cậu bỏ. Cậu chọn âm nhạc. Đó là một quyết định không dễ, ở cái thời mà nghề nhạc chưa được nhiều gia đình coi trọng.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám, mười tám tuổi, ông viết bài Ô mê ly. Theo các nguồn kể lại, bài hát ra đời trong lúc ông cùng bạn bè vui đùa ca hát. Cái tên nghe đã thấy vui. Ô mê ly, như một tiếng reo. Bài hát có nhịp nhanh, nhún nhảy, hát lên là muốn vỗ tay theo. Về sau, nó hay được hát trong những buổi tiệc, những ngày lễ hội.

Mình để ý, bài đầu tay của nhiều nhạc sĩ thường buồn. Còn bài đầu tay của Văn Phụng lại vui. Người ta kể rằng ông là người yêu đời, hay đùa, lên sân khấu thì trình diễn rất tự nhiên, rất duyên. Nhạc sĩ lão thành Nguyễn Túc từng nhận xét rằng ông yêu đời, yêu người, gắn bó với cây cỏ, với thiên nhiên, với cả loài vật.

Người trong nghề gọi ông là nhạc sĩ muôn điệu. Ông viết đủ thể loại. Có bài vui như tiệc cưới, có bài êm như mặt hồ, có bài mang hơi hướng nhạc jazz, tức là dòng nhạc ra đời từ cộng đồng người Mỹ gốc Phi, nhịp lả lơi, hòa âm nhiều màu. Một cuốn sách nghiên cứu ở nước ngoài cũng ghi rằng nhạc ông chịu ảnh hưởng rõ của jazz và nhạc blues. Mình nghe nhạc Văn Phụng sẽ thấy điều đó ở những hợp âm. Ông hay dùng những hợp âm có thêm một hai nốt lạ, nghe hơi chênh vênh, rồi mới trở về chỗ yên. Cái chênh vênh ấy làm bài hát có màu, có khói, như ánh đèn phòng trà thời xưa. Đó là cái tai của một người chơi dương cầm, quen nghe từng lớp âm thanh chồng lên nhau.

Suối tóc và những năm xa nhau

Mình trở lại buổi sáng ở Hải Phòng. Khúc nhạc Suối tóc ra đời trong khoảnh khắc. Còn lời, ông viết sau. Bài hát là cả một dòng suối mềm. Giai điệu chảy chầm chậm, uốn lượn, như những lọn tóc đổ xuống vai. Không có chỗ nào gấp gáp. Nghe Suối tóc, mình có cảm giác như ai đó đang nhẹ tay vuốt một mái tóc dài.

Cũng từ buổi gặp ấy, theo một số bài báo, còn có bài Tiếng dương cầm. Tiếng đàn trên lầu năm ấy đã đi vào bài hát. Mình nghe bài này, thấy giai điệu có những bước nhảy như ngón tay lướt trên phím đàn. Người viết là một người chơi dương cầm thật, nên ông biết cái đẹp của từng nốt trắng, nốt đen.

Nhưng cuộc gặp gỡ ấy không đi tới đâu, ít ra là trong những năm đầu. Châu Hà từng kể lại rằng sau lần gặp ấy, hai người không gặp nhau nữa. Gia đình cô không muốn con gái mình gần một người làm nghề nhạc. Mỗi người đi một ngả. Rồi mỗi người lập gia đình riêng.

Có một điều đáng quý. Châu Hà kể rất thật. Bà nói hồi ấy bà chưa yêu ông. Chỉ là một buổi sáng, một tiếng đàn, một bài hát. Cái tình đến sau, chậm rãi, khi cả hai đã trưởng thành.

Mấy năm sau, cả hai đều vào sống ở Sài Gòn. Châu Hà đã trở thành ca sĩ, hát trên đài phát thanh, hát ở các phòng trà. Họ gặp lại nhau. Họ hát cùng nhau thành một đôi song ca. Châu Hà còn hát trong một ban tam ca nữ, tức là ba giọng hát cùng nhau, gồm Mộc Lan, Kim Tước và Châu Hà. Bà cũng hay hát bè cho đĩa hát của nhiều ca sĩ khác. Giọng bà trong, nhẹ, đứng cạnh tiếng đàn của Văn Phụng thì như hai sợi chỉ cùng màu. Lúc đó, mỗi người đã có gia đình, nên chỉ có thể là bạn. Nhưng tình cảm thì cứ lớn dần lên, lặng lẽ.

Tôi đi giữa hoàng hôn

Trong những năm ấy, Văn Phụng viết bài Tôi đi giữa hoàng hôn. Các nguồn ghi năm khác nhau. Báo Thanh Niên ghi khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm. Một chương trình phát thanh tiếng Việt ở nước Úc thì nói khoảng mười năm sau lần gặp đầu tiên. Mình chỉ biết chắc rằng bài hát ra đời trong quãng thời gian hai người gặp lại mà chưa thể về bên nhau.

Bài hát kể về một người đi một mình trong buổi chiều tàn. Hoàng hôn là lúc ngày sắp hết, ánh sáng vàng nhạt, bóng người đổ dài. Giai điệu của ông ở bài này buồn mà sang. Có những chỗ nhạc dừng lại một chút, như người đi dừng chân ngoái nhìn. Rồi lại đi tiếp. Nhiều người nghe cho rằng bài hát gửi gắm cái hình bóng cũ của buổi sáng năm nào.

Văn Phụng còn phổ thơ rất khéo. Ông phổ bài thơ Trăng sáng vườn chè của Nguyễn Bính. Thơ Nguyễn Bính thì chân quê, tình tứ. Ông giữ được cái chân quê ấy, nhưng thêm vào một chút mềm mại của tân nhạc. Ông cũng phổ một câu ca dao thành bài Đêm buồn.

Ông có bài Bức họa đồng quê, nghe như một bức tranh làng. Có cánh đồng, có con trâu, có người nông dân. Ông còn có những bài như Trăng sơn cước, Yêu, Mưa, Tình, Giấc mộng viễn du. Tổng cộng, ông viết hơn sáu mươi ca khúc. Không nhiều, nhưng bài nào cũng có một cái riêng.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, theo báo Thanh Niên, sau nhiều trắc trở, hai người về sống chung một nhà. Từ buổi sáng ở Hải Phòng tới ngày ấy là hơn mười năm. Châu Hà là người bạn đời thứ hai của ông. Họ đi với nhau cho tới cuối đời.

Khu vườn một trăm năm mươi cây hồng

Những năm sau, hai ông bà sống xa quê. Họ có một khu vườn. Trong vườn, theo một bài viết về ông, có khoảng một trăm năm mươi cây hoa hồng và nhiều loại cây khác. Mình hình dung một ông cụ, sáng sớm ra vườn tưới hồng, rồi vào nhà ngồi bên cây đàn. Một đời người yêu cây cỏ, cuối cùng có được một vườn hồng.

Ông vẫn viết nhạc cho bà. Đến tận những năm cuối đời, ông vẫn viết những bài hát dành cho người đã ngồi bên cây đàn năm mười bảy tuổi.

Văn Phụng mất ngày mười bảy tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, ở bang Virginia, nước Mỹ. Ông sáu mươi chín tuổi.

Sau khi ông mất, bà Châu Hà kể rằng có khoảng bảy năm bà không dám nghe nhạc của ông. Nghe thì đau quá. Mình nghĩ, đó là một lời yêu thương sâu nặng nhất mà một người có thể nói về người kia. Bà mất năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, cũng ở bang Virginia, sau ông hai mươi hai năm.

Câu chuyện của họ bắt đầu bằng tiếng đàn, và cũng kết thúc bằng tiếng đàn. Giữa hai đầu ấy là bao nhiêu năm chờ đợi, bao nhiêu bài hát.

Điều còn lại cho mình hôm nay là gì? Có lẽ là sự kiên nhẫn. Có những điều đẹp không đến ngay. Có những tình cảm phải đi qua cả một hoàng hôn dài mới tới được bình minh. Và có những khúc nhạc ngẫu hứng của một buổi sáng, lại sống được cả một đời người.

Lần tới nghe Suối tóc, mình thử nghĩ tới cái cầu thang trong ngôi nhà hai tầng ở Hải Phòng. Một chàng trai đang bước lên, theo tiếng đàn.

Tình Ca. Ở đây có bình an.