Những người viết nên Tình Ca · Tập 25
Thanh Sơn – Mùa phượng của người miền Tây
Lời hẹn của cô bạn học
Năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, ở một ngôi trường trung học, có một cô bạn học phải chuyển đi nơi khác. Trước khi đi, cô nói với cậu bạn cùng trường rằng hai người không thật sự xa nhau đâu. Cô tên là Hoa Phượng.
Mười năm sau, năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, cậu học trò ngày ấy ngồi xuống viết một bài hát để nhớ thời đi học. Ông kể bài hát xong trong khoảng hai giờ đồng hồ. Bài hát ấy là Nỗi buồn hoa phượng.
Người viết là nhạc sĩ Thanh Sơn. Câu chuyện về cô bạn tên Hoa Phượng là do chính ông kể lại trong một cuộc phỏng vấn năm hai nghìn mười một, khi ông đã ngoài bảy mươi tuổi.
Hơn nửa thế kỷ sau, cứ mỗi mùa hè, học trò khắp nơi vẫn hát bài ấy trong những buổi chia tay. Bạn bè nhạc sĩ của ông gọi đùa đó là quốc ca của mùa hè.
Nghe Nỗi buồn hoa phượng, mình để ý giai điệu đi rất chậm, câu nhạc dài, có những chỗ luyến như người đang nghẹn lời. Nhịp chậm rãi đều đặn, dễ hát, dễ thuộc. Một đứa học trò chưa học nhạc ngày nào cũng có thể cầm đàn mà hát theo được. Có lẽ vì vậy mà nó sống lâu đến thế.
Nhưng trước khi có bài hát ấy, có một chàng trai nghèo ở Sóc Trăng, và một cây đàn phải dành dụm rất lâu mới mua được.
Cây đàn không cho ai đụng
Thanh Sơn tên thật là Lê Văn Thiện. Ông sinh ở Sóc Trăng, theo báo Tuổi Trẻ là ngày một tháng năm năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, dù giấy khai sinh lại ghi năm bốn mươi. Ông là con thứ mười trong một gia đình có mười hai anh chị em.
Từ nhỏ ông đã được học nhạc với thầy Võ Đức Phấn ở quê. Ông tự nhận mình là người miền Nam rặt. Thời trẻ, ông thân với giới cải lương, có lúc theo cả đoàn hát đi diễn. Ông kể chính cải lương đã thấm vào cách ông viết, làm cho nhạc ông mang đậm màu ngũ cung.
Khoảng mười bảy, mười chín tuổi, ông rời Sóc Trăng lên Sài Gòn. Các nguồn ghi năm khác nhau, có nơi ghi năm năm mươi lăm, có nơi ghi năm năm mươi bảy. Ông làm thuê, làm những việc nặng nhọc để sống, rồi tìm học hỏi các nhạc sĩ đàn anh.
Ông dành dụm tiền rất lâu mới mua được một cây đàn ghi ta để sáng tác. Ông quý cây đàn ấy đến mức không cho ai đụng vào, kể cả người bạn thân là nhạc sĩ Hàn Châu. Mấy chục năm sau, nhóm bạn già của ông vẫn còn lôi chuyện ấy ra mà cười.
Hồi đó ông còn mơ làm ca sĩ. Theo lời kể của ông, khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, ông đăng ký thi tuyển ca sĩ của một đài phát thanh, và cuối năm ấy đoạt hạng nhất. Ông nói con đường âm nhạc đến với ông là một sự tình cờ.
Cũng quãng ấy, ông quen một cô gái tên là Hương. Bà kể quen ông khoảng năm năm mươi bảy, khi ông còn đang mơ làm ca sĩ. Hai người cưới nhau năm năm mươi chín. Về sau, người con gái tên Hương ấy đi vào một trong những bài hát hay nhất của ông.
Bài hát đầu tay của ông là Tình học sinh, viết năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, không mấy ai biết đến. Phải đến năm sau, với Nỗi buồn hoa phượng, tên ông mới được nhiều người nhớ.
Những mùa hè học trò
Sau Nỗi buồn hoa phượng là cả một loạt bài về tuổi học trò. Ba tháng tạ từ, Màu áo hoa phượng, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn, Ve sầu mùa phượng. Báo Tuổi Trẻ gọi đó là những năm tháng làm nên tên tuổi ông, khi ông khoảng ba mươi tuổi.
Những bài hát ấy có chung một khung cảnh. Sân trường, cây phượng, tiếng ve, cuốn lưu bút, mấy tháng hè phải xa nhau. Không có gì lớn lao. Chỉ là nỗi buồn rất nhỏ của tuổi mười bảy, mười tám. Nhưng ai cũng từng có một mùa hè như thế, nên ai nghe cũng thấy mình trong đó.
Ông viết theo điệu bolero, chậm, đều, dễ hát. Lời ca giản dị, gần như lời nói thường. Mình nghĩ cái hay của ông là không cố làm cho nỗi buồn sâu thêm. Ông chỉ kể lại, như một người anh lớn ngồi kể cho đứa em nghe chuyện ngày xưa của mình.
Về già, có lần ông nhìn lại những bài hát thời trẻ và nhận ra trong đó có chỗ mình viết chưa đúng. Ông nói một câu rất thật thà: khán giả đã thuộc lòng cái sai của mình mất rồi. Mình nghe mà thương. Người ta đã thương bài hát ấy, thương luôn cả chỗ chưa tròn của nó.
Ông còn có những bài tình ca khác như Nhật ký đời tôi, Trả lại thời gian, Mùa hoa anh đào. Nhiều thế hệ ca sĩ đã hát nhạc ông, từ Hương Lan, Giao Linh cho đến Phi Nhung, Cẩm Ly.
Nhưng rồi những mùa phượng cũng qua. Khi dòng nhạc bolero lắng xuống, ông quay về với một nguồn khác, gần gũi với ông hơn cả: quê hương miền Tây.
Mái tóc trên đồng chiều
Ông kể khi dòng bolero thoái trào, ông chuyển sang viết nhạc quê hương, lấy hơi từ dân ca Nam Bộ. Lời và giai điệu có khác đi, nhưng tinh thần thì vẫn như cũ.
Hương tóc mạ non ra đời từ một buổi chiều ông ngồi ngắm đồng lúa ở Sóc Trăng. Ông kể ông thấy mái tóc vợ bay trong gió chiều ngoài đồng, và hứng khởi viết bài hát tặng bà. Bà tên Hương. Cái tên ấy nằm ngay trong tên bài hát.
Hình bóng quê nhà thì có một câu chuyện còn cảm động hơn. Ông từng hứa đưa vợ đi khắp đất nước, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Thế là ông đưa bà đi khắp mười ba tỉnh miền Tây. Rồi ông viết bài hát để giữ lại hình ảnh quê nhà. Không đi được xa, thì đi cho thật kỹ những nơi gần mình nhất.
Người miền Nam rặt ấy, về sau, lại nghe rất nhiều dân ca của những vùng khác qua băng đĩa. Ông kể ông nghe chầu văn, ca trù, quan họ. Ông không bỏ chất Nam Bộ của mình, mà như mở rộng thêm cái sân nhà, để chỗ cho những làn điệu ở xa cùng ghé vào.
Ông còn viết Quê hương ba miền, đoạn đầu mang hơi Bắc, đoạn giữa mang hơi Trung, đoạn cuối về lại hơi Nam. Rồi Gợi nhớ quê hương, Bạc Liêu hoài cổ, Thương về cố đô, Hành trình trên đất phù sa, Hồn quê. Các báo ghi ông viết hơn hai trăm ca khúc.
Nghe những bài quê hương của ông, mình thấy rõ dấu vết cải lương. Có những chỗ luyến láy như câu vọng cổ, có những quãng nhạc ngũ cung nghe như tiếng đàn kìm, đàn tranh. Ông không học nhạc ở trường lớn. Ông học từ những đêm theo đoàn hát, từ những buổi chiều ngồi bên ruộng.
Những năm sau, ông làm biên tập cho một trung tâm băng nhạc, rồi nghỉ hưu. Sáng sáng, ông ngồi cà phê ở một góc nhỏ Sài Gòn với mấy người bạn nhạc sĩ cùng thời như Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang, Hàn Châu. Ông từng buột miệng nói phải chi được sống lại ở tuổi ba mươi.
Năm hai nghìn mười một, ông bị tai biến, liệt nửa người. Gia đình kể ông vẫn minh mẫn, nhưng không sáng tác nữa. Ông sợ nghe nhạc, sợ xem ti vi. Chỉ hai tuần trước khi mất, ông còn tính tập vật lý trị liệu để chống nạng đi lại.
Ông có bảy người con. Bà Hương kể ông thích yên tĩnh, không muốn tiếp khách nhiều. Những ngày cuối, khi cơn đau ập đến, gia đình gọi bác sĩ mà không kịp. Bà nhớ ông chỉ kịp nói một câu xin bác sĩ cứu, ông sẽ mang ơn suốt đời. Một người cả đời viết về lời hẹn, về ơn nghĩa, đến phút cuối vẫn nói chữ mang ơn.
Ông mất vào chiều ngày bốn tháng tư năm hai nghìn mười hai. Ông dặn đám tang đừng rườm rà, và muốn được rải tro xuống một dòng sông lớn. Con trai ông muốn có một nơi để thăm viếng, nên ông đồng ý để con tìm đất. Ông được an táng ở Bình Dương.
Mình nghĩ về lời hẹn của cô bạn học năm nào: hai người không thật sự xa nhau đâu. Có lẽ cô nói đúng. Mỗi mùa hè, khi học trò lại hát Nỗi buồn hoa phượng, thì cô bạn ấy, cậu học trò ấy, và cả sân trường ngày xưa, lại gặp nhau một lần.
Mùa hè năm nay, nếu bạn đi ngang một sân trường có cây phượng nở, thử dừng lại một chút. Nhớ một người bạn cũ. Biết đâu họ cũng đang nhớ bạn. Tình Ca. Ở đây có bình an.