Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 23

Phú Quang – Viết Hà Nội từ phương xa

Hai mươi mốt câu thơ

Khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, ở Thành phố Hồ Chí Minh, có một nhà thơ đọc cho hai người bạn nhạc sĩ nghe một bài thơ rất dài. Bài thơ ấy dài bốn trăm bốn mươi ba câu. Nó được viết từ mười mấy năm trước, trên một căn gác nhỏ ở phố Hàng Bún, Hà Nội. Viết xong, tác giả cất trong tủ, thỉnh thoảng lấy ra sửa, chỉ đọc cho bạn thân nghe.

Nhà thơ là Phan Vũ. Hai người ngồi nghe là nhạc sĩ Trần Tiến và nhạc sĩ Phú Quang. Phú Quang nghe xong thì xúc động, hứa sẽ làm được một bài hát hay.

Chỉ hai ngày sau, bài hát xong. Từ bốn trăm bốn mươi ba câu thơ, ông chọn ra hai mươi mốt câu. Bài hát ấy là Em ơi, Hà Nội phố.

Báo Pháp Luật kể lại rằng nhà thơ Phan Vũ rất quý phần nhạc ấy. Ông nói nhạc của Phú Quang đã làm thơ ông lấp lánh lên. Một bài thơ cất trong tủ mười mấy năm, cuối cùng tìm được giọng hát của nó.

Mình thấy có một điều lạ. Hai con người ấy đều là người Hà Nội, cùng ngồi ở Sài Gòn, cùng nhớ một thành phố ở xa. Bài hát về Hà Nội nổi tiếng nhất của Phú Quang không ra đời ở Hà Nội. Nó ra đời ở phương Nam, từ một nỗi nhớ.

Về năm phổ nhạc, các nguồn ghi không giống nhau. Phần nhiều ghi năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu. Có bài báo lại ghi mùa đông năm một nghìn chín trăm tám mươi tám. Chỉ biết rằng khoảng năm tám mươi bảy, bài hát đã vang lên trên sóng phát thanh, và từ đó tên Phú Quang gắn với Hà Nội.

Nghe Em ơi, Hà Nội phố, mình để ý nhạc của ông gần như đi sát theo hơi thơ. Câu nhạc ngắn, có những chỗ ngưng lại như người đang đi trên phố bỗng dừng chân. Có những chữ được kéo dài ra, như tiếng gọi vọng qua một con phố vắng. Nó không vui, cũng không bi thương. Nó là một nỗi nhớ được giữ rất lâu.

Con phố tuổi thơ

Phú Quang tên thật là Nguyễn Phú Quang. Ông sinh tháng mười năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín, ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, khi gia đình còn đang sống xa Hà Nội. Đến khoảng năm lên năm tuổi, ông được đưa về Hà Nội. Quê gốc của ông là Hà Nội.

Tuổi thơ ông gắn với phố Khâm Thiên. Đó là con phố ông thương suốt đời. Những năm cuối, ông còn ấp ủ làm một chương trình âm nhạc riêng về con phố ấy.

Ông là em trai của nhạc sĩ Nguyễn Phú Ân. Ông học chỉ huy dàn nhạc ở Nhạc viện Hà Nội, rồi làm việc cho các nhà hát và dàn nhạc. Ông mê Chopin, Mozart, Tchaikovsky, những nhà soạn nhạc cổ điển châu Âu. Trong nước, ông quý mến nhạc sĩ Hoàng Vân.

Ngoài ca khúc, ông còn viết giao hưởng, nhạc cho phim, nhạc cho cải lương. Ông viết nhạc cho bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười. Ông có một bản cho sáo và dàn nhạc tên là Tình yêu của biển, viết tặng người vợ của ông, một nghệ sĩ thổi sáo.

Rồi năm một nghìn chín trăm tám mươi lăm, ông đưa gia đình vào Nam lập nghiệp. Lý do rất đời thường. Con gái lớn của ông sức khỏe yếu, không chịu được cái lạnh của mùa đông miền Bắc. Người cha ấy rời thành phố mình yêu nhất vì một đứa con.

Ông kể vào Sài Gòn chỉ được ba tháng là đã khao khát được trở về. Nhưng ông ở lại đó hơn hai mươi năm. Và chính trong hơn hai mươi năm ấy, ông viết nên phần lớn những bài hát về Hà Nội.

Ông từng nói một câu mà mình nghĩ là chìa khóa để nghe nhạc ông. Tôi chỉ viết về Hà Nội khi nào tôi nhớ thương không chịu được nữa.

Thơ của người khác, nỗi nhớ của mình

Phú Quang ít khi tự viết lời. Phần lớn những bài nổi tiếng của ông là phổ thơ. Ông đọc thơ của bạn bè, của người quen, có khi của người ông chưa gặp nhiều, rồi tìm trong đó những câu chạm đúng vào nỗi nhớ của mình.

Hà Nội ngày trở về là phổ thơ của nhà thơ Thanh Tùng. Mình phải nói rõ một chút, vì đây không phải nhạc sĩ Thanh Tùng mà là một nhà thơ trùng tên. Bài hát nói về một người đi xa trở về, thấy phố cũ vừa quen vừa lạ. Nghe giai điệu, mình thấy nó đi chậm, có những quãng lên cao rồi hạ xuống thật nhẹ, như người đứng trước cánh cửa cũ, ngập ngừng chưa dám gõ.

Nỗi nhớ mùa đông là phổ thơ Thảo Phương. Đây là bài mà nhiều người nghe xong thấy lạnh, mà là cái lạnh dễ chịu, cái lạnh làm người ta muốn tìm hơi ấm của ai đó. Phú Quang viết mùa đông Hà Nội từ một thành phố không có mùa đông. Có lẽ vì thế mà mùa đông trong nhạc ông đậm hơn mùa đông thật.

Im lặng đêm Hà Nội là phổ thơ của một nữ thi sĩ ở Sài Gòn, tên là Ngọc Liên. Các nguồn ghi họ của bà khác nhau, có nơi ghi Phan Thị Ngọc Liên, có nơi ghi Phạm Thị Ngọc Liên. Một người Sài Gòn viết thơ về đêm Hà Nội, một người Hà Nội ở Sài Gòn phổ thành nhạc. Hai nỗi nhớ gặp nhau.

Còn có Một dại khờ, một tôi, phổ thơ Nguyễn Trọng Tạo. Về lại phố xưa, phổ thơ Thái Thăng Long. Tình khúc hai mươi bốn, phổ thơ Dương Tường. Bài Ngọn nến thì chính ông viết lời.

Ông kỹ tính với người hát nhạc mình. Ông nói điều quan trọng không phải ai hát, mà là người đó hát như thế nào. Ông không cho phép phá cách quá đà, và từng nói thẳng khi ca sĩ hát sai nốt, sai lời. Người ta kể lại điều ấy không phải để trách ông, mà để thấy ông giữ từng câu nhạc như giữ một món đồ cũ của gia đình.

Nếu để ý, mình sẽ thấy nhạc Phú Quang có một màu riêng. Hòa âm có hơi hướng nhạc cổ điển, giai điệu dài, ít khi có chỗ rộn ràng. Những hình ảnh hay trở lại là phố cổ, hoa sữa, cây bàng, gió heo may. Ông từng nhận rằng ông yêu Hà Nội bằng một tình yêu cực đoan.

Có một câu ông nói với báo, được dịch lại, đại ý rằng ông uống cà phê vì vị đắng ấy làm lòng ông dịu lại, lại khiến ông thấy đời cũng có nhiều cay đắng. Mình nghĩ cái vị ấy cũng có trong nhạc ông. Đắng nhẹ thôi, nhưng ở lại rất lâu.

Ngày trở về

Năm hai nghìn lẻ tám, Phú Quang trở về sống ở Hà Nội. Ông nói sau hai mươi năm ở Sài Gòn, ông nhận ra trái tim mình vẫn thuộc về Hà Nội.

Ông cũng kể bài hát Hà Nội đầu tiên ông viết khi xa quê là Trong miền ký ức. Bài ấy không có một chữ Hà Nội nào. Chỉ có một con đường bụi đỏ, một triền sông với cơn gió mùa se sắt. Vậy mà, theo lời ông, cả nỗi nhớ của ông về thành phố ấy nằm trong đó. Năm hai nghìn mười tám, ông lấy chính tên bài này đặt cho một đêm nhạc của mình.

Ông nói viết về Hà Nội không phải là vinh dự, mà là bổn phận. Ông viết để trả nợ cho mảnh đất quê hương, nơi ông đã lớn lên.

Những năm cuối, mỗi năm ông làm hai đêm nhạc, một vào mùa xuân, một vào mùa đông. Năm hai nghìn mười sáu, ông in một cuốn sách gồm những chuyện bình thường và những mảnh hồi ức chợt hiện, như chính cái tên ông đặt cho nó.

Đêm nhạc của ông ở Nhà hát Lớn thường kín chỗ, vé thuộc loại đắt. Vậy mà năm hai nghìn mười lăm, ông lại làm một đêm nhạc không bán vé, ngay trong khu vườn nhà một người bạn ở phố Trương Định. Nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh, chủ khu vườn, kể trên VnExpress rằng hàng nghìn người kéo đến, chật kín con ngõ dài chừng trăm rưỡi mét. Ông muốn đêm ấy vô tư, vô mục đích, và vô điều kiện.

Giữa năm hai nghìn hai mươi, ông bệnh nặng vì biến chứng tiểu đường, phải thở máy. Từ cuối năm ấy, ông không còn nói được. Nhưng con gái ông, nghệ sĩ dương cầm Trinh Hương, kể rằng đầu óc ông vẫn tỉnh táo, ông trò chuyện với con bằng ánh mắt. Chị kể ông là người không chịu ngồi yên, ngay cả khi ốm vẫn bảo phải ra ngoài mới khỏe được. Chị nói hai bố con bình đẳng, ông thương chị như một người bạn thân.

Cũng năm ấy, khi ông còn nằm viện, giải thưởng mang tên họa sĩ Bùi Xuân Phái trao cho ông giải lớn Vì tình yêu Hà Nội. Ông không thể đến nhận.

Ông mất vào sáng ngày tám tháng mười hai năm hai nghìn hai mươi mốt, sau gần hai năm nằm viện. Báo kể khoảng một tuần trước đó, Hà Nội trở lạnh. Ông ra đi đúng vào mùa đông, cái mùa đã đi vào rất nhiều bài hát của ông.

Ông được đưa về an táng ở Phú Thọ, nơi ông sinh ra. Chiều hôm ấy, con rể ông, nghệ sĩ vĩ cầm Bùi Công Duy, đứng bên mộ kéo bài Em ơi, Hà Nội phố. Mấy người ca sĩ đứng quanh khẽ hát theo.

Mình nghĩ về người đàn ông ấy, ba tháng đã muốn về mà phải ở xa hơn hai mươi năm. Có khi chính khoảng cách ấy đã cho ông những bài hát. Người ta chỉ viết được về một nơi thật hay khi đã đứng đủ xa để nhớ nó.

Nếu tối nay trời trở gió, bạn thử nghe lại Nỗi nhớ mùa đông, hay Hà Nội ngày trở về. Nghe như nghe một người bạn kể về con phố cũ của họ. Rồi bạn sẽ nhớ ra con phố cũ của chính mình. Tình Ca. Ở đây có bình an.