Những người viết nên Tình Ca · Tập 21
Thanh Tùng – Người huýt sáo bên trang giấy
Một đêm cuối tháng ba
Có một đêm cuối tháng ba ở Hà Nội, một người đàn ông ngồi trong căn nhà vắng. Các con đã ngủ. Trên bàn chỉ có tờ giấy, cây bút, và bao thuốc lá. Ông không ngồi vào đàn. Ông huýt sáo khe khẽ, rồi ghi xuống. Đêm hôm ấy, theo những gì báo chí còn ghi lại, là đêm ông viết bài Một mình.
Người đàn ông ấy là nhạc sĩ Thanh Tùng. Lúc đó vợ ông đã mất. Ông ở lại với ba đứa con và một nỗi nhớ không biết đặt vào đâu. Bài hát viết ra trong đêm ấy về sau trở thành một trong những ca khúc được nhắc đến nhiều nhất của ông.
Nhưng mình muốn bắt đầu câu chuyện từ xa hơn một chút. Từ một cậu bé sinh ra ở Nha Trang, bên bờ biển miền Trung, vào mùa thu năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám.
Năm lên sáu tuổi, cậu bé theo gia đình ra Bắc, rồi lớn lên ở Hà Nội. Có tài liệu ghi lúc ấy cậu khoảng bảy tuổi, và nơi dừng chân đầu tiên là Hải Phòng. Dù thế nào, phần lớn tuổi trẻ của ông gắn với phố phường Hà Nội. Đó là nơi ông học, nơi ông yêu, và sau này cũng là quê của người vợ ông thương.
Thanh Tùng không bước vào âm nhạc từ cửa sáng tác. Ông đi du học ngành âm nhạc ở nước ngoài, tốt nghiệp năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt, khi mới hai mươi ba tuổi. Về nước, ông làm chỉ huy dàn nhạc ở Đài Phát thanh. Công việc của ông là đứng trước dàn nhạc, nghe từng bè, chỉnh từng nhịp, để bài hát của người khác vang lên cho tròn.
Ông còn làm một việc mà báo chí sau này vẫn ghi nhận: chuyển soạn những bài hát quen thuộc thành bản hòa tấu không lời. Những giai điệu người ta vẫn hát, qua tay ông, thành tiếng đàn tiếng kèn phát trên sóng. Mình nghĩ chính những năm tháng ấy dạy ông một điều: một giai điệu hay là giai điệu vẫn đứng được khi không còn chữ.
Bài hát đầu tay và mùa biển
Sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, Thanh Tùng vào Thành phố Hồ Chí Minh. Ông góp sức xây dựng dàn nhạc nhẹ của Đài Truyền hình thành phố, rồi làm chỉ huy hợp xướng và chỉ đạo nghệ thuật cho Đoàn Ca múa Bông Sen. Ông cũng là người lập nên nhóm hợp ca Những Làn Sóng Nhỏ.
Bài hát đầu tay của ông là Cây sầu riêng trổ bông, viết cho một vở cải lương. Về năm ra đời, các nguồn ghi không giống nhau. Có nơi ghi năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, có nơi ghi đầu những năm tám mươi. Bài hát mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, và được ca sĩ Hương Lan hát với cái mượt mà của miền sông nước.
Nghĩ cũng lạ. Một người lớn lên ở Hà Nội, học nhạc bác học, mà bài đầu tay lại thơm mùi vườn trái cây phương Nam. Có lẽ người chỉ huy dàn nhạc ấy đã nghe rất kỹ cái đất mình vừa đặt chân đến.
Rồi khoảng tuổi bốn mươi, ông về lại Nha Trang, nơi mình được sinh ra, để làm chương trình cho một đoàn nghệ thuật ở đó. Báo Nhân Dân về sau nhận định: chính từ quãng này, Thanh Tùng mới thật sự trở thành một tác giả ca khúc có tên tuổi.
Biển đi vào nhạc ông rất tự nhiên. Chuyện tình của biển, Phố biển, Lời tỏ tình của mùa xuân, Hát với chú ve con, Ngôi sao cô đơn. Những bài ấy ra đời ở quãng Nha Trang. Nghe kỹ, mình thấy giai điệu của ông hay đi theo từng đợt, dâng lên rồi lùi xuống, như sóng vỗ vào bờ rồi rút ra.
Lời tỏ tình của mùa xuân thì khác. Nó trong trẻo, tươi, có chút tinh nghịch của tuổi mới lớn. Hát với chú ve con thì gần như một bài hát cho thiếu nhi, đơn sơ mà dễ nhớ. Người viết những bài ấy lúc đó đã ngoài bốn mươi. Vậy mà trong nhạc, ông vẫn giữ được cái nhìn của một đứa trẻ đứng ngắm mùa hè.
Ngôi sao cô đơn thì như một lời tự họa. Về sau, người ta hay gọi chính ông bằng tên bài hát ấy. Còn ông, trong một đêm nhạc năm hai nghìn lẻ năm, theo báo VnExpress, lại tự nhận mình chỉ là một bụi cỏ trong khu vườn âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người bạn thân của ông.
Mỗi tháng một bài hát
Tháng ba năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, Thanh Tùng cùng sáu nhạc sĩ ở Thành phố Hồ Chí Minh lập một nhóm nhỏ, đặt tên là Những Người Bạn. Họ hẹn với nhau một điều rất giản dị: mỗi tháng, mỗi người phải có một ca khúc mới.
Lời hẹn ấy nghe như chuyện học trò. Nhưng nó cho ra đời những bài hát mà ba mươi năm sau người ta vẫn hát. Hoa tím ngoài sân, Em và tôi, Mưa ngâu, Giọt nắng bên thềm. Tất cả đều được viết trong quãng thời gian nhóm bạn ấy còn hẹn hò nhau từng tháng.
Con gái út của ông, chị Bạch Dương, từng kể với báo Tiền Phong về cách cha mình viết nhạc. Ông hiếm khi ngồi vào đàn. Ông ngồi với giấy, bút, thuốc lá, và huýt sáo. Phần lớn bài hát hoàn thành rất nhanh, khi cảm xúc đã đến đủ.
Nhưng cũng có bài phải chờ. Giọt nắng bên thềm, theo lời chị Bạch Dương, được ông viết dở dang rồi cất đi suốt bốn năm, vì chưa tìm đủ cảm xúc để viết nốt. Bốn năm cho một bài hát. Với một người viết nhanh như ông, đó là một sự kiên nhẫn hiếm có.
Có lẽ vì thế mà Giọt nắng bên thềm nghe như có nhiều lớp. Giai điệu chậm rãi đi xuống ở đầu câu, rồi bất ngờ vươn lên, như một người đang kể chuyện bình thường bỗng nghẹn lại. Bài hát gắn với giọng ca Thanh Lam. Đến mức nhiều năm sau, khi một ca sĩ trẻ hơn được giao hát bài này trong đêm tưởng nhớ ông, cô còn cảm ơn Thanh Lam đã nhường bài tủ.
Em và tôi thì ra đời trong một hoàn cảnh khác. Theo lời con gái ông kể công khai, có một quãng cuộc hôn nhân của cha mẹ chị tưởng đã không giữ được. Ông viết Em và tôi như một cách níu lại. Và họ đã ở lại bên nhau.
Hoa tím ngoài sân thì ông nói là viết về người phụ nữ nói chung, không hẳn riêng một ai. Giai điệu của bài có cái dịu dàng của một buổi chiều nhìn ra khoảng sân nhỏ. Nghe thấy một màu hoa, mà cũng thấy cả một nỗi chờ.
Sống một mình vì nghĩa
Năm một nghìn chín trăm chín mươi, vợ ông qua đời sau mười tám năm chung sống. Ông bốn mươi hai tuổi. Báo chí sau này ghi lại rằng ông gọi đó là một cú sốc tình cảm. Ba người con, Bách, Thông và Bạch Dương, ở lại với cha.
Ông đã nói với nhà báo Hà Đình Nguyên một câu mà nhiều người còn nhớ: ông sống một mình vì nghĩa, khi bà ấy khuất rồi ông đã xác định như vậy. Chị Bạch Dương thì kể lại với báo rằng hồi nhỏ chị hay phản đối mỗi khi có người phụ nữ nào đến gần cha. Lớn lên, chị mới hiểu đó là quãng thời gian cha mình cô đơn nhất.
Bài Một mình ra đời từ nỗi cô đơn ấy. Ca sĩ Mỹ Linh là người gắn với bài hát này. Nghe Một mình, mình để ý ông không làm cho nỗi buồn to ra. Câu nhạc không gào lên. Nó cứ đi chầm chậm, lặp lại, như một người đi quanh căn phòng trống, chạm vào từng món đồ quen.
Rồi có những bài viết cho các con. Giọt sương trên mí mắt, theo lời con gái ông, nảy ra khi ông đưa chị đi học và thấy đôi mắt con rưng rưng. Bài hát được viết xong trên một chuyến xe công tác dài hơn tám tiếng. Một người cha nuôi con một mình, ngồi trên xe đường xa, nghĩ về ánh mắt con gái buổi sáng hôm ấy.
Ông thương con theo một cách mà chị Bạch Dương gọi là văn minh. Ông không đánh con, không ép con theo nghệ thuật hay theo một nghề nào. Mười tám tuổi, các con tự lập, tự đi học xa.
Và có Lối cũ ta về, một bài hát về Hà Nội, thành phố quê vợ, nơi ông sống những năm tháng cuối đời. Theo báo Nhân Dân, ông từng nói bây giờ mới trả được món nợ với Hà Nội. Ông cũng nói cái giá để trả món nợ ấy quá đắt. Mình nghĩ ai từng mất một người thân thì sẽ hiểu ông muốn nói gì.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, một tạp chí văn hóa chọn ông vào danh sách mười tác giả tiêu biểu của sáu mươi năm tân nhạc. Trong danh sách ấy, ông là người trẻ nhất.
Khi không còn nói được
Năm hai nghìn lẻ tám, ông có đêm nhạc riêng mang tên Một mình. Đó là lần cuối ông đứng trước khán giả. Cũng năm ấy, ông bị tai biến. Ông liệt nửa người bên phải, không còn đi lại được, và mất gần hết khả năng nói. Ông phải ngồi xe lăn, mỗi tuần chạy thận ba lần.
Người từng đứng trước cả dàn nhạc, người từng huýt sáo ra cả trăm bài hát, giờ chỉ nói được vài tiếng rời rạc. Nhà báo Hoàng Anh của VnExpress đến thăm ông vào khoảng nửa năm trước khi ông mất. Chị kể lại những chi tiết mà mình đọc xong cứ nhớ mãi.
Ông muốn nói một năm nào đó, không nói được, liền gõ tay trái xuống mặt bàn, từng nhịp một, như đang đánh vần. Người chỉ huy dàn nhạc ngày nào, cuối cùng, vẫn nói bằng nhịp.
Khi được hỏi ở nhà ông thương ai nhất, ông gắng hết sức, và nói rõ một tiếng: Bà. Con dâu ông kể rằng mỗi lần có khách đến, ông chọn quần áo rất kỹ, để mình trông vẫn chỉn chu.
Nhà báo ấy còn ghi lại rằng phần lớn những bài hát cũ ông đã không còn nhớ. Nhưng bài Một mình, bài viết cho người vợ đã khuất, vẫn làm ông xúc động. Trí nhớ quên đi nhiều thứ. Còn một bài hát thì ở lại.
Ông mất vào sáng ngày mười lăm tháng ba năm hai nghìn mười sáu, tại Hà Nội. Sau khi ông mất, các ca sĩ hát lại nhạc ông trong một đêm tưởng nhớ. Ca sĩ Thanh Lam hát một bài tên là Chuyện cổ Nghi Tàm, theo lối hát xẩm. Báo Tiền Phong cho biết đó là bài cuối cùng ông viết.
Mùa hè năm hai nghìn hai mươi sáu, tròn mười năm ngày ông đi, gia đình ông mở một cuộc triển lãm ở Hà Nội. Hơn một trăm tấm ảnh, những bản nhạc viết tay, những cuộn băng cát xét cũ. Nhiều thứ lần đầu được đem ra cho người ta xem.
Mình hay nghĩ về hình ảnh người đàn ông ngồi bên tờ giấy, huýt sáo khe khẽ trong đêm. Ông không cần một cây đàn để viết. Ông chỉ cần một nỗi nhớ đủ đầy, và đủ kiên nhẫn để chờ nó đến, có khi là một đêm, có khi là bốn năm.
Nếu tối nay bạn nghe lại một bài của ông, có thể là Một mình, có thể là Lời tỏ tình của mùa xuân, thì thử nghe chậm thôi. Nghe cái chỗ câu nhạc lùi xuống rồi dâng lên, như sóng biển Nha Trang ngày ông còn nhỏ. Tình Ca. Ở đây có bình an.