Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 20

Phan Huỳnh Điểu – Cho chữ của người khác được hát

Một câu thơ không được đổi

Có một lần, nhà thơ Xuân Quỳnh gặp nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu để nói về một bài hát ông phổ từ thơ của bà. Bà không đòi gì nhiều. Bà chỉ mong một điều: có một câu thơ, xin đừng để ca sĩ đổi chữ xưng hô, nhất là khi người hát là ca sĩ nam. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, đó là lần gặp trước khi bà mất.

Bài hát ấy là Thuyền Và Biển. Nghe thì tưởng chuyện nhỏ, một chữ xưng hô. Nhưng ai từng đọc thơ Xuân Quỳnh đều hiểu, trong bài thơ ấy, người kể là một người con gái, đang kể cho người mình thương nghe chuyện con thuyền và biển. Đổi chữ đi là đổi cả người đang nói.

Phan Huỳnh Điểu hiểu điều đó hơn ai hết. Theo báo Thanh Niên, chính ông cũng từng nhấn mạnh rằng có những chữ trong bài thơ phải được giữ nguyên, vì đổi đi thì hỏng cả thơ lẫn nhạc. Còn với những chỗ khác, ông không ngại chọn lựa. Bài Thuyền Và Biển, theo báo VnExpress, chỉ lấy nửa sau của bài thơ làm lời hát.

Cả đời ông làm đúng công việc ấy, trên chữ của người khác: chỗ nào bỏ, chỗ nào giữ, chỗ nào cần lặp lại để người ta nhớ. Ông công bố hơn một trăm ca khúc, và quá nửa trong số ấy là phổ thơ. Nghĩa là khi người ta hát nhạc Phan Huỳnh Điểu, phần lớn chữ là của người khác. Còn cái làm cho những chữ ấy bay lên được, là của ông.

Nhưng người ta không sinh ra đã biết phổ thơ. Muốn hiểu ông học nghề ấy thế nào, mình quay về một tiệm may ở Đà Nẵng.

Người con thứ mười một của ông thợ may

Phan Huỳnh Điểu sinh ngày mười một tháng mười một năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn ở Đà Nẵng. Quê gốc của gia đình ở Điện Bàn, Quảng Nam. Cha ông là một người thợ may, và ông là người con thứ mười một trong nhà.

Một gia đình đông con, một ông bố thợ may. Mình thử hình dung tiếng máy may lách cách suốt ngày, những đường kim mũi chỉ phải đều tay, phải khớp từng mép vải. Cái nghề ấy dạy người ta sự tỉ mỉ, biết cắt chỗ nào, chừa chỗ nào. Mình không dám nói ông học phổ thơ từ tiệm may của cha. Nhưng cái tỉ mỉ ấy, về sau, mình thấy rất rõ trong cách ông làm nhạc.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi, khi mới mười sáu tuổi, ông bước vào làng tân nhạc với bài đầu tay là Trầu Cau. Trầu cau là thứ người Việt dùng để mở đầu chuyện cưới hỏi, là biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng trong tích xưa. Một cậu thiếu niên chọn đúng hình ảnh ấy cho bài hát đầu tiên. Người viết về ông về sau còn khen lời bài này rất trau chuốt.

Những năm sau, ông sống và làm việc ở nhiều nơi, từ miền Trung ra Hà Nội, rồi cuối cùng vào Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là một trong những hội viên sáng lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ở Hà Nội, có một thời ông ở cùng khu tập thể với nhà thơ Xuân Quỳnh, nên hai người quen biết nhau từ đó.

Ông cũng viết cho trẻ con. Bài Đội Kèn Tí Hon, viết khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, là bài mà nhiều thế hệ học trò đã hát. Bài hát có nhịp đi rộn rã, nghe như một đội kèn nhỏ của bọn trẻ đang đi qua sân trường. Có tư liệu còn ghi cùng năm ấy ông viết bài Những Em Bé Ngoan. Viết cho trẻ con thì câu nhạc phải ngắn, phải vui, phải hát theo được ngay. Đó cũng là một bài học về sự giản dị.

Rồi đến lúc ông thử phổ thơ. Và những lần đầu tiên, ông thất bại.

Hơn mười năm cho một bóng cây

Theo bài viết trên trang của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, lần đầu ông phổ thơ là khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, bài Những Người Đã Chết của nhà thơ Tế Hanh. Bài ấy không thành công. Năm bốn mươi chín, ông phổ bài Điệu Buồn của Huy Cận, và chính ông cũng chưa vừa ý. Mình thích những chi tiết này, vì nó cho thấy người được gọi là bậc thầy phổ thơ cũng từng loay hoay như ai.

Câu chuyện đẹp nhất về sự loay hoay ấy là bài Bóng Cây Kơ-nia. Kơ-nia là một loài cây lớn ở Tây Nguyên, tán tròn, bóng mát, thường mọc giữa nương rẫy, gắn với đời sống của đồng bào ở đó. Bài thơ là của nhà thơ Ngọc Anh, in năm một nghìn chín trăm năm mươi chín. Cuối bài, nhà thơ ghi rõ đây là bài phỏng dịch từ dân ca của người Hrê, một dân tộc sống ở vùng núi Quảng Ngãi.

Ông đọc bài thơ và rất thích. Nhưng khi thử hát thì bản nhạc không có chút nào hơi thở Tây Nguyên. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, nghe những bản phổ khác trên đài, ông còn tính bỏ hẳn ý định. Bài thơ nằm đó, chờ.

Phải đến khi ông sống nhiều năm ở Tây Nguyên và vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, ông mới tìm ra cái mình thiếu. Báo Thanh Niên kể ông đã sống cùng làng, nghe tiếng cồng chiêng tận nơi. Cái hồn cốt của bài thơ, ông không tìm được trên trang giấy. Ông phải đi tìm nó trong tiếng chiêng, trong nhịp sống của buôn làng.

Khoảng năm một nghìn chín trăm bảy mươi, có nguồn ghi tháng tám năm bảy mươi mốt, một cô sinh viên trẻ người Ba Na tên Măng Thị Hội cần một bài hát Tây Nguyên cho kỳ thi tốt nghiệp. Ông phổ lại bài thơ cho cô. Cô hát, và bài hát thành công. Từ bản phác đầu tiên đến lúc ấy là hơn mười năm.

Nghe Bóng Cây Kơ-nia, mình thấy giai điệu cứ lặp đi lặp lại, quấn quýt, như tiếng ru, như tiếng chiêng ngân trong rừng. Đó không phải là sự lười biếng. Bài viết trên trang Hội Nhạc sĩ chỉ ra rằng ông rất hay dùng cách lặp, lặp câu, lặp nét nhạc, để người nghe dễ nhớ. Ông cũng chọn chất liệu dân gian hợp với từng bài thơ, chỗ này hơi Tây Nguyên, chỗ kia hơi dân ca Nghệ Tĩnh. Và ông chọn những bài thơ hát được, dễ hiểu, giàu hình ảnh, chứ không chọn thơ quá trừu tượng.

Hơn mười năm cho một bài hát. Mình nghĩ đó là cách ông tôn trọng người viết thơ. Không phổ được cho đúng thì thà để đó, chờ tới lúc mình hiểu.

Những bài thơ tình được hát

Những năm sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, theo nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, là quãng trữ tình đẹp nhất trong âm nhạc của ông. Năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám, ông phổ thơ Hoài Vũ thành Anh Ở Đầu Sông Em Cuối Sông. Các nguồn ghi tên bài thơ gốc hơi khác nhau, có nơi ghi Về Miền Hạ, có nơi ghi Gửi Miền Hạ. Hai người thương nhau ở hai đầu một dòng sông, cùng uống một dòng nước mà không gặp được nhau.

Bài hát mang chất dân ca Nam Bộ. Giai điệu mênh mang như sông nước miền Tây, có những chỗ ngân dài như câu hò trên ghe. Người miền Nam nghe thấy quen, người miền Bắc nghe thấy lạ mà thương. Ông là người Đà Nẵng, sống nhiều năm ở Hà Nội, vậy mà viết được một câu hò Nam Bộ tự nhiên như vậy.

Rồi đến Xuân Quỳnh. Thơ Tình Cuối Mùa Thu, theo báo VnExpress, ra đời khi ông tình cờ đọc bài thơ trên một số báo Văn Nghệ dịp Tết và phổ nhạc rất nhanh. Bài này ông lại phổ theo âm hưởng dân ca miền Bắc. Một mùa thu Hà Nội, heo may, lá rơi, và một tình yêu đã qua bao nhiêu mùa vẫn còn ở lại.

Thuyền Và Biển ra đời năm một nghìn chín trăm tám mươi mốt. Câu chuyện bắt đầu khá tình cờ. Một người bạn hát cho ông nghe một bài phổ thơ Xuân Quỳnh của người khác. Ông nghe xong thì khen bài thơ hay quá, chép lại, rồi tự phổ thành Thuyền Và Biển. Ca sĩ Tuấn Phong nhận xét bài này đánh dấu một bước chuyển của ông, sang những đề tài tình yêu thuần khiết, ai nghe cũng thấy mình trong đó.

Thuyền Và Biển là một bài nhạc nhẹ nhàng, câu nhạc dập dềnh như sóng vỗ mạn thuyền. Có những câu được nhắc lại, như con sóng quay về. Trong bài, con thuyền đi xa rồi lại nhớ biển, biển thì cứ ở đó mà thương. Câu chuyện của bài thơ là của Xuân Quỳnh. Nhưng cái nhịp sóng để câu chuyện ấy trôi vào tai người nghe, là của Phan Huỳnh Điểu.

Nhạc sĩ Phú Quang từng nhận xét rằng phổ thơ là việc của nhạc sĩ chuyên nghiệp, và Phan Huỳnh Điểu tìm được thứ nhạc song hành với thơ, không để bên nào lấn bên nào. Mình nghĩ đó là lời khen đúng nhất. Ông không viết đè lên bài thơ. Ông đi bên cạnh nó.

Ông có một câu nói mà báo Sài Gòn Giải Phóng còn ghi lại: ông chỉ sáng tác nhạc khi trong lòng thấy vui vẻ, lạc quan, vì muốn truyền điều đó đến cho người nghe. Báo VnExpress cũng ghi lại ý ông, rằng của cải rồi sẽ không còn, chỉ có tình yêu giữa người với người, tình yêu với cuộc sống và quê hương là ở lại.

Ông mất ngày hai mươi chín tháng sáu năm hai nghìn mười lăm, ở Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, thọ chín mươi mốt tuổi. Người ta vẫn gọi ông là con chim vàng của âm nhạc Việt Nam.

Mình hay nghĩ, nếu không có ông, nhiều bài thơ tình kia vẫn sống, nhưng chỉ sống trên trang giấy, đọc thầm. Nhờ ông, chúng được hát lên, ở sân trường, ở phòng trà, trong những buổi tối ai đó ngồi một mình nhớ người. Lần tới nghe Thuyền Và Biển, bạn thử nghe kỹ câu thơ mà Xuân Quỳnh dặn đừng đổi. Ở đó có cả một người nhạc sĩ biết lúc nào nên lùi lại, để chữ của người khác được nói đúng giọng của nó.

Tình Ca. Ở đây có bình an.