Những người viết nên Tình Ca · Tập 19
Nguyễn Văn Tý – Dư âm một ánh mắt, lời ru một người cha
Một ánh mắt ở Quỳnh Lưu
Một buổi sáng ở một làng ven biển Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi. Một chàng trai ngồi uống trà ngoài sân nhà người bạn. Bên trong, có một cô gái mười sáu tuổi cầm đàn, gảy khẽ, hát khẽ. Chàng trai không nói gì. Anh chỉ ngồi nghe.
Chàng trai ấy là Nguyễn Văn Tý. Theo những gì ông kể lại với báo chí về sau, chuyến đi ấy vốn là một lần bạn bè mai mối. Người ta muốn giới thiệu ông với cô chị hai mươi hai tuổi. Nhưng ông thú nhận mình không có cảm xúc gì. Rồi cô em gái bước ra, và một ánh mắt đã làm ông thất thần.
Cô bé còn quá trẻ. Ông chọn im lặng. Khi trở về nơi làm việc, ông thức trắng một đêm dưới ngọn đèn dầu, và viết xong một bài hát. Bài hát ấy là Dư Âm.
Dư âm là cái tiếng còn ngân lại sau khi tiếng đàn đã dứt. Ông đặt cho bài hát đúng cái tên ấy, vì cái ông giữ lại từ cuộc gặp chỉ là thế: một tiếng đàn, một ánh nhìn, một cảm giác không nói thành lời. Có lần ông nói với báo chí, đại ý rằng ông chỉ yêu cái dư âm đó thôi, chứ làm gì có cái thật mà yêu.
Nguyễn Văn Tý sống tới chín mươi lăm tuổi. Ông viết rất nhiều bài, cho rất nhiều miền quê. Nhưng trong hồi ký của mình, ông tự nhận rằng đề tài tình yêu trong Dư Âm và tình mẹ trong Mẹ Yêu Con là muôn thuở vẫn còn. Một bài về một ánh mắt, một bài về một đứa con. Đời ông nằm giữa hai bài hát ấy.
Cậu bé thành Vinh và cây đàn Hạ Uy Cầm
Nguyễn Văn Tý sinh ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Quê gốc của gia đình ở Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Về năm sinh, các nguồn ghi khác nhau. Ông tự nhận mình sinh năm Giáp Tý, tức năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn. Nhiều tư liệu khác lại ghi năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm.
Cha ông là một người làm nhạc. Ông cụ từng cầm đầu một phường nhạc cổ truyền ở vùng Vĩnh Phú, chơi hát văn, chèo, hát ả đào, rồi sau làm thợ máy ở xưởng xe lửa Trường Thi ở Vinh. Cậu bé Tý lớn lên với tiếng trống chèo, nhịp phách và câu hát văn của cha. Đó là cái vốn đầu tiên, và là cái vốn ông mang theo suốt đời.
Rồi cậu đi học trường Quốc Học Vinh. Một thầy giáo người Pháp dạy cậu hát những bài của Tino Rossi, một ca sĩ người Pháp nổi tiếng thời ấy với giọng hát ngọt và mềm. Trong một nhóm hướng đạo, cậu được một vị linh mục người Tây Ban Nha nhận vào ca đoàn nhà thờ, và học được những bài nhạc lý, hòa âm đầu tiên. Một thầy dạy nhạc người Hoa tên Mạnh Hinh dạy cậu đàn Hạ Uy Cầm, tức cây guitar Hawaii đặt nằm ngang, tiếng ngân dài và luyến.
Thử nghĩ mà xem. Trống chèo của cha, bài hát Pháp của thầy giáo, thánh ca của nhà thờ, tiếng đàn Hawaii của thầy người Hoa. Tất cả gặp nhau trong một cậu bé ở thành Vinh. Về sau, người ta thấy nhạc ông vừa có cái mềm mại của bài hát phương Tây, vừa có cái luyến láy rất Việt. Có lẽ cái gốc là từ những năm này.
Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn, chàng trai hai mươi tuổi đi hát ở phòng trà Moongate, phòng trà lớn nhất thành Vinh lúc bấy giờ. Ông hát khung giờ khuya, chủ yếu là những bài tình ca lãng mạn của thời ấy. Ông còn trẻ, giọng tốt, đứng trên sân khấu đã quen.
Đời ông cũng sớm có một nỗi buồn. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu ông lấy người vợ đầu, bà Mai Thị Cúc. Bà mất vì bệnh tim khi con gái mới chừng ba tháng tuổi. Nên đến cái buổi sáng ở Quỳnh Lưu, ông là một người đàn ông trẻ đã từng mất mát, được bạn bè thương mà mai mối cho.
Bây giờ thì mình hiểu hơn vì sao Dư Âm buồn mà không bi lụy. Bài viết ở nhịp hai bốn, nhẹ nhàng, có nhiều chỗ luyến láy. Câu nhạc đi lên rồi vòng lại, như người muốn nói mà lại thôi. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét bài hát gợi một không gian có trăng, có gió, có thiếu nữ. Mình thì nghe thấy trong đó một người đứng rất xa, nhìn một cái gì rất đẹp, và biết mình sẽ không chạm tới.
Bài hát được rất nhiều giọng hát qua nhiều thế hệ hát lại, từ Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Ánh Tuyết, đến Tùng Dương bây giờ. Ca sĩ Ánh Tuyết kể, có lần ông nói với bà rằng ông sống được đến chừng ấy tuổi là nhờ những dư âm đó.
Vài năm sau Quỳnh Lưu, ông gặp một người con gái khác. Và lần này, câu chuyện có một đứa con.
Mẹ yêu con
Năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, Nguyễn Văn Tý cưới bà Nguyễn Thị Bạch Lệ, em gái của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu, ông viết Mẹ Yêu Con.
Hoàn cảnh ra đời bài hát được kể hơi khác nhau. Một bài báo kể rằng khi ấy hai vợ chồng vừa có con gái nhỏ, sống ở quê ngoại, cuộc sống thiếu thốn, và ông viết từ cảm xúc của người mẹ nhìn con tập cười, tập nói. Một bài khác ghi ông viết cho con gái nhỏ khi cô bé phải sống xa mẹ. Còn người trong cuộc thì nói rất gọn. Nghệ sĩ dương cầm Nguyễn Thái Linh, con gái ông, kể với báo Tuổi Trẻ rằng đó là ca khúc cha viết tặng bà, sau ngày mẹ sinh ra bà.
Mẹ Yêu Con là một bài hát ru. Nó lấy chất liệu từ dân ca Bắc Bộ, cái vùng đất có tiếng trống chèo và câu hát văn mà ông nghe từ thuở nhỏ. Giai điệu êm, đều, có nhịp đưa như cánh võng. Hình ảnh trong bài là hình ảnh đồng quê, những thứ mà một đứa trẻ nằm trong nôi chưa biết, nhưng người mẹ thì muốn hát cho con nghe từ sớm.
Ông từng kể lại chuyện thu âm bài này lần đầu. Người hát là Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Huyền. Chồng bà nhắn rằng bà hay quên lời. Thế là ông chép lời bài hát lên một tờ giấy lớn, đặt ngay cạnh giường bà để bà thuộc. Khi thu, bà vẫn quên một chữ, và ông đứng ngoài buồng thu nhắc vọng vào. Phải thu ba bốn lần mới xong. Ông bảo ngày xưa, một bài phải thu nhiều lần như thế mới được.
Về sau có rất nhiều người hát Mẹ Yêu Con, như Lê Dung, Thu Hiền, và cả những giọng hát thiếu nhi. Ca sĩ Ánh Tuyết có lần hát bài này trong đêm nhạc kỷ niệm ba mươi lăm năm ca hát của bà. Theo báo VnExpress, đang hát thì ông bước lên sân khấu và nói rằng đây mới đúng là hát ru con.
Cô con gái trong bài hát ấy lớn lên, thành một nghệ sĩ dương cầm. Bà kể rằng sau này, mỗi khi bất chợt nghe bài hát vang lên ở đâu đó, bà đều khóc vì nhớ mẹ. Một bài hát người cha viết cho con, nhân danh người mẹ. Rồi đến khi người mẹ đã đi xa, bài hát lại thành nơi người con tìm về với mẹ.
Mình nghĩ đó là một trong những điều kỳ lạ của bài hát ru. Nó được viết cho một đứa trẻ, nhưng người ta nghe nó cả đời.
Đi ở với từng miền quê
Đầu thập niên sáu mươi, Nguyễn Văn Tý về sống ở Hưng Yên mấy năm. Ông sống gần bà con nông dân ở Hưng Yên, Thái Bình, để học dân ca. Từ những ngày ấy có bài Chim Hót Trên Đồng Đay, năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba. Một cánh đồng đay xanh, một tiếng chim, một làn điệu đồng bằng Bắc Bộ.
Cách làm của ông rất riêng. Ông không ngồi ở thành phố mà tưởng tượng ra miền quê. Ông đến ở, ăn cùng, nói chuyện cùng, nghe cho thuộc giọng nói và câu hò của người ta rồi mới viết. Báo của Hội Nhạc sĩ Việt Nam kể rằng để viết về phương Nam, ông đã dành khoảng năm năm học cách ăn, cách nói, cách nghĩ, và cả cách ngồi nhậu của người miền Nam.
Với Hà Tĩnh, ông có Một Khúc Tâm Tình Của Người Hà Tĩnh, viết năm một nghìn chín trăm bảy mươi tư, và Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ, năm bảy mươi sáu. Cả hai bài pha làn điệu ví, giặm của xứ Nghệ, Hà Tĩnh. Ví là lối hát đối đáp ngân dài giữa trai và gái, còn giặm là lối hát có nhịp, kể chuyện. Một Khúc Tâm Tình của ông được nhiều người coi như bài hát của cả tỉnh, và ông được Hà Tĩnh ghi nhận là công dân danh dự, dù ông không sinh ra ở đó.
Đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Thụy, có một nhận xét mà mình thấy rất đúng. Ông nói có cảm giác âm nhạc của cụ Tý là âm nhạc của một anh nhà quê chân đất, áo vải, nhưng vô cùng tài hoa. Ông Lê Thụy còn kể rằng nhạc sĩ đưa được cả những chi tiết rất đời thường như phân tro vào bài hát, mà nghe vẫn tự nhiên.
Ông còn viết cho trẻ con. Báo VnExpress kể tên những bài như Tôi Là Gà Trống, Gà Mái Mơ, Út Cưng. Năm một nghìn chín trăm tám mươi, ông viết Cô Đi Nuôi Dạy Trẻ cho một chương trình Tết của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, do Thanh Lan hát. Ông còn viết nhạc cho phim hoạt hình, cho múa rối, cho chèo.
Đến tuổi tám mươi hai, ông vẫn còn phổ thơ. Năm hai nghìn lẻ sáu, ông phổ bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Theo báo của Hội Nhạc sĩ, ông phổ để tặng vợ, vì thấy bài thơ cần thêm chất Huế trong giai điệu.
Những năm cuối đời, ông sống ở Quận Một, Thành phố Hồ Chí Minh. Sức khỏe yếu dần, ông ít ra khỏi nhà. Người ta kể mỗi lần có khách tới chơi, ông mừng như trẻ con. Cuối năm hai nghìn mười sáu, ông còn ngồi xe lăn đến dự một đêm nhạc từ thiện của nghệ sĩ Kim Cương.
Ông mất chiều ngày hai mươi sáu tháng mười hai năm hai nghìn mười chín, tại nhà riêng. Các báo ghi ông hưởng thọ chín mươi lăm hoặc chín mươi tư tuổi, tùy theo năm sinh. Con gái ông, nghệ sĩ dương cầm Thái Linh, nói với báo Tuổi Trẻ rằng cha bà đã ra đi rất nhẹ nhàng, thanh thản.
Mình hay nghĩ về hai bài hát ông tự nhận là sẽ còn mãi. Một bài viết cho một người ông không bao giờ có được. Một bài viết cho một người ông có trọn đời. Giữa hai bài ấy là cả một đời đi khắp các miền quê, học tiếng người ta mà viết. Hôm nay, nếu một đêm nào đó bạn nghe ai ru con bằng một câu của ông, thì đó là dư âm của một người cha thành Vinh vẫn còn ngân.
Tình Ca. Ở đây có bình an.