Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 18

Đặng Thế Phong – Ba mùa thu của chàng họa sĩ

Một đêm trên sông Thương

Một đêm năm một nghìn chín trăm bốn mươi, trên sông Thương ở Bắc Giang. Một chiếc thuyền nhỏ, mấy người bạn trẻ, và một chàng trai hai mươi hai tuổi đang cầm trong tay lá thư từ Nam Định gửi lên. Người con gái chàng thương báo tin cô bị ốm, và cô nhớ chàng. Theo lời nhạc sĩ Lê Hoàng Long kể lại, chính trong đêm trên sông ấy, bài Con Thuyền Không Bến bắt đầu thành hình.

Chàng trai đó là Đặng Thế Phong. Nghề của anh là vẽ. Anh vẽ tranh minh họa cho báo để kiếm tiền đi học. Còn âm nhạc, anh tự học, tự đàn, tự hát. Đời anh chỉ dài hai mươi bốn năm. Và tất cả những gì anh để lại cho tân nhạc Việt Nam là ba bài hát.

Ba bài, nhưng cả ba đều còn được hát tới hôm nay. Và cả ba đều về mùa thu: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu. Nhạc sĩ Phạm Duy về sau nhận xét rằng chính những bài này đã mở đầu cho dòng nhạc thu trong tân nhạc Việt, dòng nhạc mà những người đi sau còn tiếp nối mãi.

Câu chuyện đêm trên sông Thương, mình phải nói rõ ngay từ đầu, chỉ là một trong mấy lời kể. Có tư liệu ghi rằng bài hát được anh hoàn chỉnh ở Nam Vang, tức thành phố Phnôm Pênh bây giờ, rồi mới mang về Hà Nội. Có lẽ cả hai đều đúng một phần. Một giai điệu có thể chớm lên trên một dòng sông, rồi đi theo người viết thêm một quãng đường dài mới thành hình hẳn.

Nhưng trước khi tới dòng sông ấy, mình quay lại thành Nam, nơi một cậu bé con nhà thông phán phải bỏ học giữa chừng.

Cậu con trai thành Nam đi vẽ thuê

Đặng Thế Phong sinh năm một nghìn chín trăm mười tám ở thành phố Nam Định, đầu tiết Thanh Minh, tức khoảng đầu tháng tư dương lịch. Có nguồn ghi cụ thể là ngày mười bốn tháng tư. Cha anh là ông Đặng Hiển Thế, làm thông phán ở Sở Trước bạ Nam Định. Nhà có sáu anh em, các nguồn ghi anh là con thứ, có nơi nói thứ hai, có nơi nói thứ ba.

Cha mất sớm, gia cảnh sa sút. Đang học năm thứ hai bậc thành chung, tức chừng lớp bảy bây giờ, cậu phải bỏ học. Cậu lên Hà Nội kiếm sống, với một thứ vốn duy nhất: bàn tay biết vẽ.

Ở Hà Nội, anh vẽ tranh minh họa cho tờ Học Sinh, một tờ báo cho tuổi học trò do nhà văn Phạm Cao Củng làm chủ bút. Anh vẽ truyện tranh, trong đó có truyện Hoàng Tử Sọ Dừa. Tiền vẽ báo giúp anh theo học dự thính, tức là học mà không ghi danh chính thức, ở trường Mỹ thuật tại Hà Nội. Đa số tư liệu ghi đó là trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, có một bài báo lại ghi là trường Kỹ nghệ.

Có một giai thoại hay được kể về những ngày ấy. Trong một kỳ thi vẽ, anh vẽ một cái cây cụt, không còn cành. Người thầy chấm bài, theo vài lời kể là một giáo sư người Pháp tên Tardieu, khen bức tranh, nhưng buột miệng nói rằng người vẽ e không sống được lâu. Mình kể lại như một giai thoại, vì nó chỉ đến với chúng ta qua lời những người viết về anh sau này. Nhưng nó cho thấy một điều: bạn bè quanh anh đã sớm thấy ở chàng trai này một nỗi buồn rất riêng.

Người quen kể lại rằng anh có gương mặt đẹp, giọng hát hay, và chơi đàn guitar có tiếng. Nhà văn Phạm Cao Củng còn nhớ anh hay đóng vai thiếu nữ trong những vở kịch ngắn của nhóm, và khán giả rất thích. Một chàng trai vừa vẽ, vừa hát, vừa đàn, vừa diễn. Cái gì anh cũng tự học.

Anh sinh hoạt trong phong trào Hướng Đạo, tức những nhóm thanh thiếu niên đi cắm trại, học kỹ năng, hát quanh lửa trại. Anh viết vài bài hát sinh hoạt cho anh em, như bài Sáng Trong Rừng. Và năm một nghìn chín trăm bốn mươi, cho một đêm lửa trại của học sinh Hà Nội, anh viết Đêm Thu. Phần đông tư liệu coi đây là bài hát đầu tay của anh.

Thử hình dung một đêm thu, một đống lửa giữa trời, mấy chục cô cậu học trò ngồi vòng tròn. Bài hát phải dễ thuộc, để cả nhóm hát theo được. Nhưng Đêm Thu không chỉ là bài hát cho vui. Giai điệu của nó chầm chậm, man mác, như hơi sương xuống quanh ánh lửa. Có tư liệu kể anh tự hát, tự đệm đàn bài này trên sân khấu rạp Olympia ở phố Hàng Da, và khán giả đã vỗ tay rất lâu.

Rồi chàng trai ấy lại lên đường. Lần này là một chuyến đi rất xa về phương Nam.

Nam Vang và con thuyền

Khoảng đầu năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, Đặng Thế Phong vào Sài Gòn, rồi sang Nam Vang. Ở đó, anh mở một lớp dạy nhạc. Có tư liệu kể anh đi cùng một người chú, và những ngày ở đất khách rất chật vật, nghèo túng, sức khỏe sa sút dần. Khoảng nửa năm sau, anh trở về Hà Nội, sống bằng đủ nghề: vẽ tranh, viết báo, đàn hát.

Con Thuyền Không Bến ra đời trong quãng đời lang bạt ấy. Như mình đã kể, có người nói bài hát chớm lên trên sông Thương, có người nói bài được hoàn chỉnh ở Nam Vang. Lần đầu bài được hát trước công chúng cũng có hai lời kể. Một lời nói chính anh tự hát ở rạp Olympia. Một lời khác nói ca sĩ Vũ Thị Hiển hát ra mắt ở Nhà hát Lớn, rồi một tuần sau anh mới tự hát ở Olympia.

Còn bài hát thì không cần ai tranh cãi. Câu mở đầu, Đêm nay thu sang cùng heo may, đã đặt người nghe vào một không gian rất Việt. Không phải mùa thu lá vàng xứ người, mà là gió heo may, là dòng sông, là bến nước. Con thuyền trôi mà không có bến để ghé. Người viết thì đang nhớ một người ở xa.

Nghe kỹ, mình thấy giai điệu bài này đi như mặt nước. Câu nhạc dài, lên xuống nhẹ, không có chỗ nào gắt. Nhạc sĩ Doãn Mẫn từng xếp Đặng Thế Phong cùng Lê Thương vào số những người viết tiền chiến đậm hồn dân tộc nhất, và nhận xét anh là người hết sức tài hoa. Cái hồn dân tộc ấy không nằm ở chỗ bắt chước một làn điệu dân ca nào cả. Nó nằm ở chỗ chữ và nhạc đi với nhau rất thuận, dấu giọng tiếng Việt được tôn trọng, đọc lên đã thấy gần như hát.

Đầu năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, theo một số tư liệu, bài được hát ở Nhà hát Lớn Hà Nội, và tên tuổi chàng họa sĩ bắt đầu được nhiều người biết đến. Nhưng cũng chính lúc ấy, bệnh lao, căn bệnh mà người thời đó coi là bệnh nan y, đã bám lấy anh.

Một bài hát về con thuyền không bến, viết bởi một người cũng đang trôi. Đi Sài Gòn, đi Nam Vang, về Hà Nội, về Nam Định. Mình nghĩ đó là lý do bài hát vẫn chạm được người nghe hôm nay. Ai mà chẳng có lúc thấy mình như chiếc thuyền ấy.

Giọt mưa thu

Những tháng cuối đời, Đặng Thế Phong nằm bệnh. Có tư liệu kể người yêu anh đưa anh về dưỡng bệnh ở vùng trại hoa Ngọc Hà, ngoại ô Hà Nội. Người con gái ấy, theo lời Lê Hoàng Long, là cô Tuyết ở Nam Định. Có nguồn khác ghi một cái tên khác. Mình không dám chắc tên nào, chỉ biết rằng có một người con gái đã ở bên anh đến cuối. Theo lời kể, cô còn kín đáo mua thuốc, nhờ người quen trong nhà thương đưa cho anh, để anh không biết thuốc là do cô mua.

Trong những ngày nằm bệnh ấy, anh viết bài thứ ba. Lúc đầu anh đặt tên là Vạn Cổ Sầu, nghĩa là nỗi buồn muôn đời. Bạn bè thương anh, góp ý nên đổi đi cho bớt buồn. Bài hát mang cái tên mới: Giọt Mưa Thu. Có tư liệu ghi bài ra đời năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, có tư liệu ghi vào tháng bảy năm bốn mươi mốt, mùa mưa ngâu.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Câu mở đầu Giọt Mưa Thu chỉ có thế, mà nghe như tiếng mưa thật. Giai điệu đi từng bước nhỏ, những nốt nhạc rơi xuống như từng giọt nước nhỏ từ mái hiên. Nỗi buồn ở đây trong trẻo, không than van. Có người viết về bài hát này rằng nó đẹp mà thắt lòng.

Bài hát ấy còn đi xa hơn đời người viết. Nhiều tư liệu ghi rằng nó đã gợi cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương viết bài Tiếc Thu. Một bài hát của người hai mươi tư tuổi đã trở thành cái mốc để người khác nhìn vào mà viết tiếp.

Đặng Thế Phong mất năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, vì bệnh lao, khi mới hai mươi bốn tuổi. Ngày mất, các nguồn ghi khác nhau. Nhiều tư liệu ghi là mùng hai tháng tám năm Nhâm Ngọ âm lịch, tức vào mùa thu. Có nguồn ghi anh mất ở căn gác số chín phố Hàng Đồng, Nam Định, có nguồn ghi ở nhà thương. Có tư liệu kể bạn anh, Bùi Công Kỳ, đã ngồi bên giường bệnh hát cho anh nghe chính bài Giọt Mưa Thu.

Đám tang anh có rất đông thanh niên Nam Định đi tiễn. Người con gái anh thương, với sự đồng ý của hai gia đình, đã mặc đại tang đi sau linh cữu. Nhà thơ Thanh Tịnh viết thơ khóc bạn. Một chàng họa sĩ chưa kịp nổi tiếng bằng tranh, mà cả thành phố đã tiễn đưa như tiễn một người nghệ sĩ.

Có người nói anh còn viết thêm bốn năm bài nữa. Nhưng như nhà văn Nguyễn Đình Toàn từng viết, không ai biết những bài đó là bài gì. Gia tài được công nhận vẫn chỉ là ba bài, cả ba đều về mùa thu.

Mình hay nghĩ về sự trớ trêu này. Nghề kiếm sống của anh là vẽ, mà tranh của anh thì gần như không còn ai nhớ. Cái còn lại là ba bài hát anh viết ngoài giờ, bằng cây đàn guitar tự học. Một người làm việc bằng đôi mắt, mà phần ở lại với đời lại thuộc về đôi tai của chúng ta.

Thu nào cũng vậy, khi gió heo may đầu tiên thổi qua, khi cơn mưa đầu tiên gõ lên mái hiên, ở đâu đó lại có người khẽ hát một câu của anh. Đời anh ngắn, nhưng mùa thu thì năm nào cũng về. Và mỗi lần thu về, anh lại được hát lên một lần nữa.

Tình Ca. Ở đây có bình an.