Những người viết nên Tình Ca · Tập 17
Hoàng Trọng – Người chép nhạc lên tấm vải
Tấm vải trước mặt người hát
Hãy hình dung một phòng thu của đài phát thanh ở Sài Gòn, hơn nửa thế kỷ trước. Dàn nhạc đã ngồi vào chỗ. Cô ca sĩ bước tới trước micro. Và ngay trước mặt cô không phải là tờ giấy nhỏ kẹp trên giá nhạc, mà là một tấm vải lớn. Trên tấm vải, có người đã cẩn thận chép cả bản nhạc, nét to, để đứng xa vẫn đọc được.
Người chép những tấm vải ấy là nhạc sĩ Hoàng Trọng. Ca sĩ Thanh Lan, người từng hát nhiều chương trình do ông phụ trách, kể với báo Thanh Niên rằng hồi đó các ca sĩ không có thời gian học thuộc bài. Nên ông cất công viết bản nhạc lên những tấm vải to, đặt trước mặt họ. Bà gọi đó là tâm huyết của ông với nghề.
Mình kể chuyện tấm vải trước, vì nó nói về ông nhiều hơn mọi danh hiệu. Người ta quen gọi Hoàng Trọng là vua tango của nhạc Việt. Nhưng ngồi nghe kỹ đời ông, mình thấy ông giống một người thợ cả hơn là một ông vua. Ông viết giai điệu, viết hòa âm, dựng ban nhạc. Và rất nhiều lần, ông để người khác viết lời cho nhạc của mình.
Ông để lại khoảng hai trăm ca khúc. Theo các tư liệu về ông, chỉ chừng bốn mươi bài là chính ông đặt lời. Phần còn lại là những lần bắt tay với người khác: Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Vĩnh Phúc, Thanh Nam. Một người viết nhạc sẵn lòng chia chỗ trên tờ nhạc với ngần ấy người, thì hẳn phải là người biết nghe.
Vậy người biết nghe ấy bắt đầu từ đâu? Từ một thành phố nhỏ ở miền Bắc, và từ một người anh trai dạy em mình cầm đàn.
Thành Nam và người anh dạy đàn
Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi hai ở Hải Dương. Khi ông lên năm, gia đình chuyển về Nam Định, thành phố mà người miền Bắc vẫn gọi thân mật là thành Nam. Ông lớn lên ở đó, cả tuổi thơ lẫn tuổi trẻ.
Năm mười một tuổi, ông bắt đầu học nhạc với người anh trai là Hoàng Trung Quý. Sau đó ông học ở một trường dòng tại Nam Định, rồi tự tìm sách mà học tiếp. Có tư liệu còn ghi rằng ông theo học hàm thụ một trường nhạc ở Paris, nghĩa là học qua thư, bài gửi đi, bài gửi về.
Ông chơi được nhiều thứ đàn: vĩ cầm, kèn saxophone, sáo. Về sau ông còn soạn cả sách tự học đàn Hạ Uy Cầm, tức cây đàn guitar Hawaii đặt nằm ngang, tiếng ngân dài và luyến như tiếng người thở dài.
Mười lăm tuổi, ông lập một ban nhạc nhỏ với anh em trong nhà và bạn bè. Mười sáu tuổi, ông viết bài hát đầu tay, tên là Đêm Trăng, có nơi ghi là Vầng Trăng Sáng. Đó là năm một nghìn chín trăm ba mươi tám. Tân nhạc Việt khi ấy còn rất non, những người trẻ đang tập viết bài hát bằng tiếng mẹ đẻ theo lối ký âm phương Tây. Chẳng bao lâu sau, cậu thanh niên ấy đã mở lớp dạy đàn.
Rồi ông mở một phòng trà tên là Thiên Thai, và ban nhạc của ông cũng mang luôn cái tên ấy. Các tư liệu ghi khác nhau về nơi đặt phòng trà, nguồn nói Nam Định, nguồn nói Thái Bình. Nhưng cái tên thì rõ ràng. Thiên Thai là cõi tiên trong tích xưa, nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc vào. Một cái tên rất hợp với những người trẻ mê một thứ nhạc mơ màng.
Nói một chút về tango. Đây là điệu nhảy sinh ra ở vùng cảng Buenos Aires của nước Argentina. Nhịp tango có những cú nhấn dứt khoát, rồi kéo dài ra, như bước chân dừng lại giữa chừng rồi mới trượt đi. Điệu nhảy ấy theo các phòng khiêu vũ mà vào Việt Nam. Hoàng Trọng viết nó nhiều đến mức người ta gọi ông là vua tango.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, bài Nhạc Sầu Tương Tư, lời Hoàng Dương, đưa tên ông đi xa. Cái tên bài đã nói hết: một nỗi nhớ người. Nhưng nghe kỹ, mình thấy nỗi nhớ ấy không gào lên. Nó đi theo nhịp, có chỗ nhấn, có chỗ níu, có chỗ buông. Cái buồn trong nhạc ông có dáng đi đàng hoàng.
Cũng quãng ấy, ông viết Dừng Bước Giang Hồ, lời Quang Khải. Có nguồn ghi bài ra đời năm năm mươi ba, có nguồn ghi năm năm mươi tư. Bài viết theo điệu paso doble, một điệu nhảy gốc Tây Ban Nha, nhịp đi rộn ràng và dứt khoát. Chỉ riêng cái tên đã gợi tâm trạng của một kẻ lãng du mỏi chân, muốn tìm một chỗ dừng.
Giữa thập niên năm mươi, ông vào sống ở Sài Gòn. Từ đây, một chương mới mở ra, chương của những người viết lời.
Những người viết lời
Ở Sài Gòn, Hoàng Trọng lập nhiều ban nhạc chơi trên các đài phát thanh, rồi sau này trên truyền hình. Đó là những năm ông viết khỏe nhất. Những bài được nhắc nhiều của thời này có Ngàn Thu Áo Tím, Lạnh Lùng, Bạn Lòng, Mộng Lành, Tiễn Bước Sang Ngang, Ngỡ Ngàng. Mấy cái tên chỉ vài chữ, nghe như những nét chấm phá.
Ngàn Thu Áo Tím là một bài valse, điệu nhảy nhịp ba, một phách mạnh hai phách nhẹ, xoay tròn như tà áo trong phòng khiêu vũ. Lời bài hát là của Vĩnh Phúc. Đó là một người phụ nữ, tên đầy đủ là Lưu Vĩnh Phúc, từng là nữ sinh trường Trưng Vương ở Hà Nội.
Câu chuyện bà kể lại về sau mới thú vị. Theo bài viết của tác giả Thủy Như trên báo Thế Kỷ Mới, bà Vĩnh Phúc cho biết hồi trẻ bà đã viết cả lời lẫn nhạc, rồi đưa cho Hoàng Trọng. Ông sửa nhiều đến mức ý nhạc không còn hoàn toàn là của bà nữa. Nên bà đề nghị ghi tên ông là người viết nhạc. Có tư liệu khác ghi rằng bà viết lời cho ba bài của ông, là Cánh Hoa Yêu, Tìm Một Ánh Sao và Ngàn Thu Áo Tím.
Mình thích chuyện này ở chỗ nó cho thấy tay nghề của người thợ cả. Một bản nháp được đưa tới, và ông không vứt đi để viết lại từ đầu. Ông sửa, nắn, chỉnh, cho tới khi câu nhạc đứng vững trên nhịp ba. Còn người trao bản nháp thì đủ rộng lòng để nói rằng phần nhạc giờ đã là của ông. Một bài hát ra đời từ hai sự nhường nhau như thế.
Nghe Ngàn Thu Áo Tím, mình thấy cái xoay của nhịp ba làm nỗi buồn mềm đi. Câu nhạc lên rồi xuống như một vòng quay, chữ nào cũng có chỗ thở. Bản thu hay được nhắc là giọng Thái Thanh, một giọng hát trong và vút, đi trên nhịp valse mà không bị cuốn theo.
Một người viết lời khác đi cùng ông nhiều lần là Hồ Đình Phương. Rồi Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Thanh Nam. Mỗi người mang tới một giọng chữ riêng, có người chuộng chữ trau chuốt, có người thích câu mộc mạc. Ông thì giữ cho phần nhạc một nếp chung: giai điệu rõ ràng, nhịp nhảy chắc chắn, dễ hát mà không dễ dãi.
Còn mùa xuân thì ông tự viết lời. Gió Mùa Xuân Tới, tờ nhạc in ghi lời và nhạc Hoàng Trọng, là một bài xuân tươi vui. Nó khác hẳn nhiều bài xuân xưa vốn hay chở theo tâm sự buồn. Câu nhạc ngắn, nhẹ, nghe như cơn gió đầu năm lùa qua ngõ, lật mấy tờ lịch mới. Đến giờ, gần Tết, bài này vẫn hay được hát lại.
Ngồi đếm những cái tên đứng cạnh tên ông trên tờ nhạc, mình hiểu thêm vì sao ông thành người dựng ban nhạc. Người quen làm việc cùng người khác, sớm muộn cũng muốn gom họ về một chỗ, ngồi chung một sân khấu.
Tiếng Tơ Đồng
Từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy, ban đại hòa tấu và hợp xướng của ông mang tên Tiếng Tơ Đồng xuất hiện đều đặn trên truyền hình. Tơ đồng là chữ xưa để chỉ dây đàn. Ban có dàn nhạc, có hợp ca, và có nhiều giọng hát tên tuổi của thời ấy góp mặt.
Những người từng làm việc với ông nhớ về một Hoàng Trọng rất kỹ. Ông chăm chút phần hòa âm, viết những bè phụ để đỡ cho giọng chính nổi lên. Ông gửi bài trước để ca sĩ tập, có kèm ghi chú. Ông đến đài đúng giờ, và thường nghe lại chương trình đã thu. Ca sĩ Quỳnh Giao, trong hồi ức về ông, nhận xét ông cẩn thận đến mức cầu toàn, và bảo rằng ông bướng lắm.
Ghép những chi tiết ấy với tấm vải chép nhạc mà Thanh Lan kể, mình thấy một con người nhất quán. Ông không để người hát phải lo. Việc gì cần chuẩn bị, ông chuẩn bị trước. Cái khó, ông giữ phần mình.
Ông còn viết nhạc cho hơn chục bộ phim, có nguồn ghi là mười sáu phim, trong đó có phim Người Tình Không Chân Dung. Nhạc phim là một nghề khác hẳn. Giai điệu phải biết lùi lại sau hình ảnh, đỡ cho cảnh phim mà không giành lời. Với một người quen đứng phía sau như ông, nghề ấy rất hợp tay.
Đời riêng của ông cũng gắn với âm nhạc theo một cách dễ thương. Người bạn đời về sau của ông là bà Thu Tâm, một người chơi vĩ cầm. Năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, ông viết Chiều Rơi Đó Em, bài mà các tư liệu ghi là viết tặng bà, và cũng là một trong những bài cuối cùng của ông.
Còn các con, ông đặt tên bằng tên nốt nhạc. Hoàng Nhạc Đô, Hoàng Cung Fa, Hoàng Bạch La, Hoàng Thiên Út, Hoàng Kim Mi. Nốt Út, nói thêm cho ai chưa biết, là cách gọi xưa của nốt Đô. Mỗi đứa con mang theo một nốt, như thể cả nhà là một khuông nhạc. Người con cả, Hoàng Nhạc Đô, về sau cũng thành nhạc sĩ.
Thanh Lan còn kể một chuyện nữa. Trước khi ông lên đường sang Mỹ, ông gọi điện cho bà, đề nghị bà hát mười bài do chính ông viết và hòa âm. Bà nói với báo Thanh Niên rằng bà xúc động, vì lúc ấy ông đã nghĩ đến giọng hát của bà. Sau khi ông mất, bà tìm đến gia đình ông để xin lại cuốn album hai người từng làm chung.
Những năm cuối đời, ông sống xa quê, ở thành phố San José, bang California. Ông mất ngày mười sáu tháng bảy năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, khi đã bảy mươi sáu tuổi.
Thanh Lan có một nhận xét mà mình cứ nhớ mãi. Bà nói nhạc của ông đôi khi buồn man mác, nhưng trong đó vẫn có sức sống, không bi lụy, không chịu thua số phận. Mình nghĩ đó là câu tóm gọn đẹp nhất về nhạc Hoàng Trọng. Tango của ông có buồn, valse của ông có nhớ, nhưng nhịp thì cứ bước tới. Người nghe không bị kéo xuống, mà được dìu đi.
Hôm nay, nếu bạn mở lại một bài của ông, thử đừng chỉ nghe giọng hát. Hãy nghe phía sau giọng hát: tiếng vĩ cầm đỡ một câu, tiếng kèn lót vào một chỗ ngừng, tiếng bè hợp ca nâng một điệp khúc lên. Đó là chỗ ông ngồi. Một người cả đời chép nhạc lên tấm vải cho người khác đọc, rồi lặng lẽ lùi lại phía sau.
Tình Ca. Ở đây có bình an.