Những người viết nên Tình Ca · Tập 16
Hoàng Thi Thơ – Người dựng sân khấu cho bài hát
Căn phòng trọ trên đường Ký Con
Sài Gòn, khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi ba. Trong một căn phòng trọ trên đường Ký Con, có một chàng trai ngoài hai mươi tuổi, người miền Trung, ngồi viết. Ban ngày anh đi dạy tiếng Anh, tiếng Pháp ở mấy trường tư để kiếm sống. Ban đêm anh viết một cuốn sách.
Đó không phải một cuốn tiểu thuyết, cũng không phải một tập thơ. Đó là một cuốn sách dạy người ta cách viết một bài hát. Cách đặt giai điệu, cách hòa âm, cách cho lời ca ăn khớp với nốt nhạc. Khi in ra vào năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, cuốn sách dày chừng năm trăm trang, mang cái tên rất thật thà: Để sáng tác một bài nhạc phổ thông.
Lúc ấy chưa mấy ai biết tên anh. Vậy mà cuốn sách được in đi in lại nhiều lần, và có những người viết nhạc trẻ sau này coi nó như cuốn cẩm nang đầu đời. Chàng trai trong căn phòng trọ ấy tên là Hoàng Thi Thơ.
Mình kể chuyện cuốn sách trước, vì nó cho thấy một nét rất riêng của con người này. Ông không chỉ viết bài hát. Ông muốn hiểu bài hát được làm ra như thế nào, rồi chỉ lại cho người khác. Và sau này, ông còn đi xa hơn nữa: dựng cả sân khấu, cả đoàn hát, cả những điệu múa, để bài hát có chỗ mà sống.
Nhưng trước khi đến sân khấu, mình về lại làng quê của ông đã.
Làng Bích Khê và con đường cũ
Hoàng Thi Thơ sinh ra ở làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một dòng họ Hoàng có nề nếp. Nhiều nguồn ghi ông sinh ngày một tháng bảy năm một nghìn chín trăm hai mươi chín. Cũng có nguồn nói ông sinh năm Mậu Thìn, tức sớm hơn một năm.
Ông học tiểu học ở quê, rồi ra Huế, ra Hà Tĩnh học trung học. Cái làng nhỏ bên dòng sông ấy theo ông suốt đời. Sau này, có những bài hát ông không ký tên Hoàng Thi Thơ mà ký là Bích Khê, có bài ký là Triệu Phong. Một cái là tên làng, một cái là tên phủ. Người ta đi xa thì mang theo kỷ vật. Ông mang theo cái tên quê mình, viết lên trang nhạc.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy là một năm nhiều chuyện vui của ông. Ông bắt đầu tổ chức những đêm đại nhạc hội lớn ở rạp Thống Nhất, Sài Gòn. Bài Thôn trang mở hội trăng rằm của ông được in ra và nhiều người hát. Cũng năm ấy, ông cưới bà Thúy Nga, một người chơi đàn phong cầm và ca hát. Tiệc cưới đãi ở nhà hàng Văn Cảnh. Hai ông bà có với nhau bốn người con.
Năm sau, ông về thăm làng Bích Khê. Đã nhiều năm ông xa quê. Người cháu mà ông nuôi như con ruột, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, kể lại rằng chuyến về ấy là để tìm lại người thân, tìm mẹ và em gái. Nhưng mẹ ông đã không còn từ mấy năm trước. Và từ chuyến về ấy, khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, ra đời bài Đường xưa lối cũ.
Nhiều người nghe bài hát này cứ tưởng đó là một chuyện tình trai gái. Theo lời ông Hoàng Thi Thao, người em trong bài chính là cô em gái ruột của nhạc sĩ. Bài hát là một chuyến trở về: con đường làng vẫn đó, mái nhà vẫn đó, nhưng người xưa đã vắng.
Bạn nghe lại Đường xưa lối cũ, bạn sẽ thấy nó được viết như một câu chuyện kể. Giai điệu chậm, đều, từng câu nối nhau như những bước chân đi trên con đường đất. Không có chỗ nào gào lên. Cái buồn được giữ lại bên trong, chỉ đến cuối câu mới ngân ra một chút. Có lẽ vì thế mà nhiều gia đình, dù hoàn cảnh không giống ông, nghe vẫn thấy như đang hát chuyện nhà mình.
Mình nghĩ đây là bài hát cho thấy rõ nhất trái tim của Hoàng Thi Thơ. Một người có thể đi rất xa, làm rất nhiều việc lớn, nhưng chỗ sâu nhất trong lòng vẫn là con đường làng và bóng dáng người mẹ.
Gạo trắng, trăng thanh và tiếng hát làng quê
Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, khi viết về Hoàng Thi Thơ trên báo Người Lao Động, gọi ông là người khơi dòng cho việc đưa điệu bolero về với giọng Việt. Ông cũng xem Hoàng Thi Thơ là người mở đầu cho một dòng nhạc viết về đời sống làng quê, gần gũi với người bình dân, có chịu ảnh hưởng của đờn ca tài tử Nam Bộ.
Điều ấy nghe hơi sách vở, nhưng bạn chỉ cần nghe bài Gạo trắng trăng thanh là hiểu ngay. Bài hát là cảnh trai gái trong làng giã gạo dưới trăng, vừa làm vừa hát đối đáp với nhau. Ông đề tặng bài này cho đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết, và chính đôi giọng ấy đã làm bài hát đi khắp nơi.
Cái hay của Gạo trắng trăng thanh là nó mang được cái nhịp của công việc. Tiếng chày giã gạo đều đều trở thành nhịp của bài hát. Lời ca thì như lời trêu ghẹo của người trong làng, có duyên mà không lả lơi. Nghe xong, người ta thấy như mình vừa đứng ở sân đình một đêm trăng sáng.
Rồi đến Đám cưới trên đường quê, Duyên quê, Túp lều lý tưởng, Tà áo cưới. Những cái tên ấy đều có chung một không khí: một đám cưới nhỏ, một mái nhà tranh, một người con gái mặc áo cưới đi qua cánh đồng. Ông viết về hạnh phúc của người bình thường, cái hạnh phúc giản dị đến mức ai cũng mong có được.
Cách đặt chữ trong nhạc ông cũng đáng để ý. Bạn thử hát theo sẽ thấy lời ca bám rất sát dấu giọng tiếng Việt: chữ mang dấu huyền thì nốt nhạc hạ xuống, chữ mang dấu sắc thì nốt nhạc vươn lên. Người hát không phải uốn éo, câu hát tự nhiên như lời nói, ai nghe cũng rõ từng chữ. Đó là cái tay nghề của một người từng viết cả một cuốn sách về chuyện ấy.
Có một điều nữa mình muốn nói. Nhạc quê hương của Hoàng Thi Thơ hầu như không có bóng tối. Ngay cả khi buồn, nó vẫn có trăng, có lúa, có người thương. Người viết ra những bài hát ấy, theo lời người nhà kể, là một người rất chăm chút, ăn mặc chỉn chu, không rượu, không thuốc lá, và coi việc ăn uống là một nghệ thuật. Ông nấu bún bò Huế rất ngon.
Một người yêu cái đẹp đến từng bát bún như vậy, thì việc ông không dừng lại ở bài hát mà muốn dựng cả một sân khấu, có lẽ cũng là chuyện tự nhiên.
Dựng đoàn, dựng múa, dựng nhạc kịch
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt, Hoàng Thi Thơ lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam. Ông làm trưởng đoàn, nhạc sĩ Lê Thương làm phó đoàn. Đoàn có gần một trăm nghệ sĩ, đi lưu diễn suốt bốn năm ở Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan và Lào.
Cùng với hai vũ sư Trịnh Toàn và Lưu Hồng, ông đi tìm và dựng lại những điệu múa của các vùng miền. Múa xòe, múa quạt, múa trống bồng, múa nón quai thao, những điệu múa của người Ê Đê và người Cơ Ho ở Tây Nguyên. Ông không chỉ muốn người ta nghe bài hát Việt, mà còn muốn người ta thấy được dáng điệu, màu áo, nhịp chân của người Việt.
Rồi ông làm một việc mà vào thời đó rất ít người làm: viết nhạc kịch. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba là Từ Thức lạc lối Bích Đào, dựa trên câu chuyện cổ về chàng Từ Thức lạc vào cõi tiên. Năm sau là Dương Quý Phi. Rồi Cô gái điên, rồi Ả đào say. Ông tự viết nhạc, tự dựng, tự đạo diễn. Cô gái điên cũng được ông làm thành phim.
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy, ông lập đoàn ca vũ nhạc kịch Maxim's ở Sài Gòn, chú trọng nhiều vào múa. Trong đoàn có những cô gái trẻ múa rất đẹp. Và cũng từ đoàn này, có một câu chuyện buồn.
Khoảng năm một nghìn chín trăm bảy mươi, một nữ diễn viên múa của đoàn, chỉ chừng mười chín, hai mươi tuổi, mất đi sau một mối tình không có lối thoát. Danh ca Họa Mi kể với báo Pháp Luật rằng nhạc sĩ đã viết bài hát ngay sau đám tang, vì thương cô gái. Trong lời đề tựa, ông viết rằng mình biết người con gái ấy và xúc động vì cuộc tình của cô. Bài hát ấy là Chuyện tình người trinh nữ tên Thi.
Bài hát được viết theo lối kể chuyện, có đầu có cuối, như một vở nhạc kịch nhỏ thu gọn trong mấy phút. Người nghe đi theo từng đoạn đời của cô gái, rồi đến cuối thì lặng đi. Rất nhiều người từng nghĩ đó là chuyện tình của chính ông, nhưng không phải. Đó là cách một người dựng sân khấu thương một diễn viên của mình.
Khoảng những năm bảy mươi hai, bảy mươi ba, ông viết thêm một loạt bài vui tươi, có bài ký bút danh Tôn Nữ Trà Mi. Bài được nhiều người nhớ nhất trong số đó là Rước tình về với quê hương, với giai điệu rộn ràng như một đám rước ngày hội làng.
Ông tiên còn vướng bụi trần
Những năm sau, ông sống xa quê, ở miền Nam bang California, nước Mỹ. Ông vẫn làm nghề, dựng những bộ phim ca nhạc, những câu chuyện cổ tích bằng hình ảnh và tiếng hát. Năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, ông về thăm quê hương.
Về già, tim ông yếu. Người nhà kể ông đã qua hai cơn đau tim, có mấy năm phải ngồi mà ngủ. Nhưng ông vẫn viết. Những bài hát cuối đời của ông có màu sắc an nhiên, thiền định hơn. Năm hai nghìn ông viết Bài thơ má núng đồng tiền. Giữa năm hai nghìn lẻ một, ông viết Tóc thề chấm vai.
Trong một cuộc phỏng vấn những ngày cuối, ông ví đời mình bây giờ như một ông tiên. Nhưng ông nói trái tim mình vẫn còn rung động trước cái đẹp, nên chưa dừng viết được. Ông tiên mà còn vướng bụi trần. Ông cũng nói rằng khi từ biệt cuộc đời này, ông không có điều gì phải hối tiếc.
Hoàng Thi Thơ mất vào sáng Chủ nhật, ngày hai mươi ba tháng chín năm hai nghìn lẻ một, tại nhà riêng ở Glendale, một thành phố nhỏ gần Los Angeles. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha kể rằng trước khi đi, ông dặn gia đình dành tiền phúng điếu để giúp những gia đình vừa mất người thân trong một thảm họa lớn ở New York mấy ngày trước đó.
Ông để lại hơn năm trăm ca khúc, có nguồn nói hơn sáu trăm, cùng những vở nhạc kịch, những trường ca, những bộ phim, những điệu múa, và một cuốn sách dạy viết nhạc.
Nhìn lại một đời như vậy, mình thấy ông giống một người thợ dựng nhà. Ông dựng cuốn sách cho người viết nhạc trẻ. Ông dựng sân khấu cho ca sĩ, dựng điệu múa cho vũ công, dựng nhạc kịch cho những câu chuyện cổ. Và giữa tất cả những công trình ấy, ông vẫn để dành một góc nhỏ cho con đường làng Bích Khê, nơi có bóng mẹ và cô em gái.
Hôm nay, nếu một đêm trăng nào đó bạn nghe lại Gạo trắng trăng thanh hay Đường xưa lối cũ, bạn có thể nhớ đến chàng trai ngồi viết trong căn phòng trọ đường Ký Con năm ấy. Một người tin rằng bài hát là thứ có thể học được, có thể dạy được, và đáng được dựng cho thật đẹp.
Tình Ca. Ở đây có bình an.