Những người viết nên Tình Ca · Tập 15
Trúc Phương – Người hát dưới hiên mưa
Trưa mưa ở quán cơm bình dân
Một trưa thứ Bảy mưa dầm. Trong một quán cơm bình dân ở Sài Gòn, mấy người đàn ông ngồi quanh một cái bàn nhỏ, ăn bữa trưa rẻ tiền. Có hai người hát rong bước vào trú mưa. Một người không còn chân. Một người không còn thấy đường. Người mù ôm cây đàn ghi ta thùng, gảy mấy tiếng dạo, rồi cất giọng hát bài Mưa nửa đêm.
Ở cái bàn nhỏ ấy có một người đàn ông cao, hơi gù, đeo kính cận, tai đã nghe không rõ. Nghe xong bài hát, ông cười buồn, nói nửa đùa nửa thật rằng nhạc của mình bây giờ là nhạc của người đi hát dạo. Người hát rong nghe vậy thì ngạc nhiên. Người ta giới thiệu: đây là tác giả bài hát vừa rồi. Người cụt chân lập tức quỳ xuống, gọi ông là sư phụ.
Ông đỡ người kia dậy, cầm lấy cây đàn, rồi tự mình hát cho cả nhóm nghe. Những người khách ăn trong quán bỏ đũa, kéo ghế lại gần. Tiếng mưa ngoài hiên. Tiếng đàn thùng hơi lạc dây. Và giọng hát của một người đã ngoài năm mươi tuổi, khàn khàn, chậm rãi.
Chuyện ấy xảy ra khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi tám. Người ngồi cùng bàn hôm đó sau này viết lại trong hồi ký, và báo Tuổi Trẻ có đăng một đoạn. Người đàn ông cầm đàn là nhạc sĩ Trúc Phương, người mà giới yêu nhạc vẫn gọi bằng một cái tên vừa thân vừa nể: ông hoàng của điệu bolero.
Mình kể chuyện này đầu tiên, vì nó nói được một điều về nhạc Trúc Phương mà sách vở khó nói. Nhạc của ông không cần sân khấu. Nó sống được trong một quán cơm, dưới một mái hiên, trên tay một người hát rong. Nó đi từ người này sang người khác như một câu chuyện kể miệng, và đến một ngày, nó quay về gặp lại chính người đã viết ra nó.
Nhưng trước khi đến những bài hát, mình phải thưa trước với bạn một điều. Về đời Trúc Phương, có những chỗ các nguồn kể không giống nhau. Mình sẽ kể những gì chắc chắn, và chỗ nào chưa chắc thì mình nói rõ là chưa chắc.
Cầu Ngang và những buổi chiều quê
Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Quê ông ở xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, một vùng đất ven hạ lưu sông Cửu Long, nơi nhà cửa nằm dọc theo kênh rạch, chiều xuống thì nghe tiếng ghe, tiếng chèo khua nước.
Năm sinh của ông là chỗ đầu tiên các nguồn lệch nhau. Nhiều bài báo trong nước ghi ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi chín. Còn người con trai của ông, và những người bạn từng nghe chính ông kể chuyện đời mình, thì đều nói ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi ba. Mình theo lời gia đình, nhưng bạn nên biết là có hai con số như vậy.
Cái tên Trúc Phương cũng có hai cách giải thích. Cách phổ biến nhất nói rằng quanh nhà ông thuở nhỏ có nhiều bụi tre trúc, nên ông lấy chữ trúc làm tên để nhớ quê. Người con trai thì kể khác một chút: nhà bà nội ở Trà Vinh không có trúc, mà rặng trúc ấy ở quê ngoại của các con ông, tận Bến Tre. Dù là bên nào, cái tên vẫn là một hình ảnh của làng quê miền Tây, xanh và mảnh, gió thổi qua thì kêu xào xạc.
Ông bắt đầu viết nhạc từ rất sớm, có nguồn nói từ năm mười lăm tuổi. Các bài báo thường kể ông tự học. Người con trai lại khẳng định ông có thầy dạy nhạc đàng hoàng. Có lẽ cả hai đều đúng một phần, vì người viết nhạc thời ấy thường vừa theo học vài lớp, vừa tự mày mò bằng cây đàn và cái máy hát.
Những bài đầu tay của ông đều mang mùi đồng ruộng. Bài Tình thắm duyên quê ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, giai điệu trong và vui, nghe như một buổi sáng có nắng. Năm sau là bài Chiều làng em. Có nguồn nói ông viết để nhớ cảnh thanh bình của làng xóm, còn người con trai thì kể đó là bài ông viết cho người con gái sau này trở thành vợ mình. Rồi đến khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi chín là bài Đò chiều.
Bạn thử nghe lại Đò chiều mà để ý cách ông đặt chữ. Câu nhạc đi chậm, mỗi chữ như được thả xuống mặt nước, rồi ngân dài ra ở cuối câu. Lời ca giản dị, gần như là lời nói thường của người miền Tây, không cầu kỳ, không chữ nghĩa sách vở. Cái buồn trong đó không phải là cái buồn bi lụy. Nó là cái buồn của một buổi chiều nhìn con đò chở người đi, rồi bến sông vắng lại.
Mình nghĩ đây là cái gốc của cả dòng nhạc Trúc Phương sau này. Một người đứng yên, nhìn người khác đi xa. Một khung cảnh rất thật, rất gần, có con đò, có buổi chiều, có con đường làng. Từ những hình ảnh nhỏ như vậy, ông viết ra một nỗi nhớ mà ai từng xa quê cũng nhận ra mình trong đó.
Rồi cũng như bao chàng trai miền Tây thời ấy, ông xách va li lên Sài Gòn.
Những đêm mưa của thành phố
Những ngày đầu ở Sài Gòn, theo lời kể được nhiều báo nhắc lại, ông ở trọ trong nhà một gia đình khá giả ở Gia Định và dạy đàn cho cô con gái chủ nhà. Câu chuyện kể tiếp rằng cô học trò đem lòng thương thầy, gia đình không chịu, và ông phải dọn đi. Mình không kiểm chứng được chuyện này đến nơi đến chốn, nên chỉ xin kể như một lời truyền lại.
Điều chắc chắn hơn là từ đầu những năm sáu mươi, nhạc Trúc Phương bắt đầu đi vào đời sống của người nghe thành phố. Bài Nửa đêm ngoài phố, qua giọng hát của ca sĩ Thanh Thúy, trở thành một trong những bài được nhiều người thuộc nhất. Rồi Buồn trong kỷ niệm, Hai lối mộng, Ai cho tôi tình yêu, Mưa nửa đêm. Những cái tên ấy cứ nối nhau ra đời, bài nào cũng có một đêm, một cơn mưa, một con đường.
Nếu những bài hát đầu tay là buổi chiều ở làng quê, thì những bài hát thời này là đêm khuya ở thành phố. Người trong bài hát thường đi một mình trên phố vắng, đèn đường vàng, mưa lất phất. Không có gì kịch tính. Chỉ là một người nhớ một người, và nỗi nhớ ấy được kể ra chậm rãi, từng câu, như người ta tâm sự với nhau lúc khuya.
Ở đây mình phải nói một chút về điệu bolero, vì Trúc Phương là một trong những người làm cho điệu nhạc này trở nên gần gũi nhất. Bolero gốc là một điệu nhảy của Tây Ban Nha, sang châu Mỹ La tinh thì chậm lại, mềm lại. Đến tay những người viết nhạc miền Nam Việt Nam, nó chậm thêm một chút nữa, tiếng trống và tiếng đàn ghi ta bập bùng đều đặn như nhịp bước chân người đi bộ.
Trên cái nền nhịp nhàng ấy, Trúc Phương đặt những câu hát gần với dân ca Nam Bộ. Bạn sẽ nghe thấy những chỗ luyến láy nhẹ, những chữ được kéo dài, những câu ngắt ra để người hát kịp thở. Lời ca thì dùng chữ của đời thường, ai nghe cũng hiểu ngay. Người hát không cần giọng to, không cần kỹ thuật cao. Chỉ cần hát thật lòng, hát chậm, là bài hát tự đi vào lòng người nghe.
Chính vì thế mà nhạc ông có sức sống lạ lùng. Người hát rong trong quán cơm hôm ấy hát được. Bác xe ôm, chị bán hàng ở chợ cũng hát được. Và những giọng ca chuyên nghiệp nhất cũng tìm thấy trong đó chỗ để gửi trọn nỗi lòng.
Danh ca Giao Linh từng kể rằng có một thời gian dài bà không dám hát nhạc Trúc Phương. Lý do không phải vì bài khó, mà vì giọng hát Thanh Thúy đã gắn quá chặt với những bài ấy, bà sợ mình hát không tới. Còn danh ca Phương Dung thì kể bà từng đến nhà ông chơi, ăn cơm, ngủ lại với vợ chồng ông. Bà nhớ ông hay dặn người hát phải cẩn trọng với từng chữ, hát cho đúng cái tình trong bài.
Cái dặn dò ấy nghe thì đơn giản, nhưng nó cho thấy ông coi trọng lời ca biết bao. Với ông, bài hát không phải chỉ để nghe cho vui tai. Bài hát là một câu chuyện có thật, có người thật, và người hát là người kể lại câu chuyện ấy.
Nhưng chính đời ông, câu chuyện có thật nhất, thì lại được kể theo nhiều cách khác nhau.
Hai bản tiểu sử, một đôi tay cầm đàn
Nếu bạn đọc về Trúc Phương trên báo, bạn sẽ thường gặp một bức chân dung rất buồn. Một người tài hoa, lận đận tình duyên, nghèo khó, cuối đời chỉ còn đôi dép. Bức chân dung ấy được kể đi kể lại nhiều năm, đến mức nhiều người tin là chuyện đương nhiên.
Người con trai của ông có viết một bài để nói lại cho rõ. Anh kể cha mẹ anh cưới nhau từ cuối những năm năm mươi, chứ không phải muộn như báo chép. Mẹ anh là con gái một gia đình có học ở Bến Tre. Gia đình anh không nghèo như người ta tả. Anh cũng nói cha anh không uống rượu.
Chuyện không uống rượu, may thay, có một nhân chứng khác. Người bạn từng ngồi cùng bàn ở quán cơm hôm trời mưa, khi viết hồi ký đăng trên báo Tuổi Trẻ, cũng tả ông là người ăn mặc chỉnh tề, thích ăn đồ ngọt, và không uống rượu. Vậy là bức chân dung một nhạc sĩ say sưa bên ly rượu, ít nhất ở điểm này, không đúng.
Hai bản tiểu sử ấy giống nhau ở một chỗ: cuộc hôn nhân của ông không đi được đến cuối. Có nguồn cho rằng bài Thói đời ra đời trong nỗi buồn ấy. Mình không dám chắc. Mình chỉ biết khi nghe Thói đời, người ta nghe ra một người đàn ông nhìn lại lòng người, nhìn lại những đổi thay, với một giọng không oán trách mà chỉ ngậm ngùi.
Những năm sau, ông ít viết hơn, sống lúc ở Trà Vinh, lúc ở Sài Gòn, lúc ở Vĩnh Long. Khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi lăm, ông về sinh hoạt ở Hội Văn nghệ Cửu Long, được cho một căn phòng nhỏ trong thị xã Vĩnh Long. Người quen thời ấy tả ông mắc bệnh suyễn nặng, mắt cận, tai nghe kém, nhưng lúc nào ra đường cũng gọn gàng, tươm tất.
Thời gian này ông vẫn viết. Bài Về chín dòng sông hò hẹn là một bài ông viết về miền sông nước Cửu Long. Cái tên bài hát ấy đẹp đến mức sau này được chọn làm tên cho một kỳ hội diễn văn nghệ quần chúng hằng năm của các tỉnh đồng bằng. Một người con của sông Tiền sông Hậu, cuối cùng để lại cho quê mình một cái tên để người ta gọi nhau về hát.
Danh ca Phương Dung còn giữ lá thư cuối cùng ông gửi, trong đó ông cảm ơn tình cảm của bà. Bà định gửi giúp ông một ít tiền, nhưng loay hoay chưa tìm được địa chỉ thì nghe tin ông đã mất.
Ông mất vào giữa tháng chín, năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, trong một phòng trọ ở quận Mười Một, Thành phố Hồ Chí Minh. Có nhiều nguồn ghi sớm hơn một năm, và ngày mất cũng được ghi là mười tám hoặc hai mươi mốt. Ông được an táng ở Lái Thiêu, Bình Dương. Khi ông đi, ca sĩ Thanh Thúy ước tính ông để lại chừng sáu mươi lăm bài hát, có người khác đếm được khoảng bảy mươi.
Mình không định phân xử bản tiểu sử nào đúng hơn. Đời một con người, nhất là một người nghệ sĩ, bao giờ cũng có những phần chỉ người trong nhà mới biết. Có thể ông nghèo hơn người nhà nghĩ, có thể ông bớt khổ hơn người ngoài tưởng. Điều mình chắc chắn là cái hình ảnh trong quán cơm năm ấy: một người đàn ông hiền lành, tai đã nghễnh ngãng, đỡ người hát rong đứng dậy, rồi cầm lấy cây đàn của họ mà hát.
Hôm nay, nếu một buổi tối nào đó bạn nghe thấy tiếng đàn bolero vọng ra từ một quán nhỏ đầu hẻm, bạn có thể nhớ rằng những bài hát ấy được viết bởi một người đến từ một làng quê ở Cầu Ngang. Ông không viết cho những sân khấu lộng lẫy. Ông viết cho những người đi một mình trong đêm, cho những ai đang nhớ một người, một con đò, một buổi chiều. Và những bài hát ấy đến giờ vẫn còn được hát, ở rất nhiều mái hiên, dưới rất nhiều cơn mưa.
Tình Ca. Ở đây có bình an.