Những người viết nên Tình Ca · Tập 12
Dương Thiệu Tước – Cây đàn của người cháu cụ Dương Khuê
Một cái tên viết nhầm
Có một bài hát mang tên một người con gái. Người viết bài hát ấy tin rằng cô tên là Ngọc Lan. Ông viết cả bài cho cô, đặt cái tên ấy lên đầu bản nhạc. Mãi về sau mới rõ, tên cô không phải Ngọc Lan. Cô tên là Ngọc Trâm. Ngọc Lan là tên người chị của cô.
Người viết nhầm cái tên ấy là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Còn cô gái là ca sĩ Minh Trang, người về sau làm vợ ông. Báo Tuổi Trẻ có dẫn lời một người trong nhà cô kể lại rằng cả nhà vẫn hay đùa với nhau về chuyện này, gọi là tình chị duyên em. Bài hát thì vẫn tên là Ngọc Lan, tới bây giờ.
Một người viết sai tên, mà vẫn viết đúng người. Chuyện đó nghe thì lạ. Nhưng đi hết đời ông, mình sẽ thấy nó không lạ lắm. Vì ông nghe người ta bằng cây đàn nhiều hơn bằng giấy tờ.
Dương Thiệu Tước sinh năm một nghìn chín trăm mười lăm, ở làng Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông xưa, nay thuộc Hà Nội. Ông nội ông là cụ Dương Khuê, một nhà nho có tiếng, bạn thân của cụ Nguyễn Khuyến. Bài thơ Khóc Dương Khuê mà nhiều thế hệ học trò thuộc lòng chính là cụ Nguyễn Khuyến viết khi bạn mình mất.
Cha ông làm quan ở Hưng Yên, nhưng lại rất mê ca trù, mê hát nói. Năm cậu con trai lên bảy, ông cho con học đờn ca. Chừng ba năm sau, cậu bé đã chơi thạo đàn nguyệt, đàn tranh, thuộc cả những bài ca Huế như Nam Ai, Nam Bình. Năm mười bốn tuổi, cậu học dương cầm, rồi học đàn ghi ta. Còn trẻ mà ông đã nổi tiếng ở Hà Nội vì chơi được tới bảy loại đàn, cả cổ lẫn mới.
Trong một dòng họ khoa bảng, chọn nghề đàn hát là chuyện không dễ. Ông từng kể với người cháu là nhạc sĩ Dương Thụ, rằng trong cả nhà, bác là người bị coi là lêu lổng, chỉ đàn đúm, hát hò. Ông nói câu ấy bằng giọng cười. Mà cái sự lêu lổng ấy, về sau, nuôi sống cả một góc tân nhạc.
Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi, gia đình mở một cửa hàng bán và sửa đàn ở phố Hàng Gai. Ông mở lớp dạy đàn ngay tại đó. Khách đến đông, một phần vì cậu chủ tiệm cầm cây đàn nào lên cũng chơi được. Hình ảnh ấy mình rất thích: một căn phố cổ, treo đầy đàn, và một người thanh niên ngồi lên dây cho từng cây.
Nhưng trước cái tiệm đàn ấy, ông và mấy người bạn đã làm một việc lớn hơn nhiều. Họ lập một nhóm nhạc, đặt tên theo một loài hoa nhỏ.
Hoa lưu ly và ba miền
Nhóm ấy tên là Myosotis, tên tiếng Pháp của hoa lưu ly. Người Pháp còn gọi loài hoa này là đừng quên tôi. Nhóm thành lập khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, có bảy người, trong đó có ông và nhạc sĩ Thẩm Oánh. Lúc đầu, họ chơi nhạc Âu Mỹ, hát lời Việt theo điệu Tây. Rồi ông và Thẩm Oánh bàn nhau: phải tự viết lấy bài của mình.
Mấy bài đầu tiên ông viết lại là lời Pháp, do anh ruột của Thẩm Oánh là ông Thẩm Bích soạn lời. Rồi ông chuyển sang viết bằng tiếng Việt. Khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, những bài như Tâm Hồn Anh Tìm Em, Một Ngày Mà Thôi, Bên Cây Lục Huyền Cầm lần lượt ra đời. Cũng thời gian ấy có Thuyền Mơ, viết theo nhịp ba, tức là điệu valse.
Nghe Thuyền Mơ, mình hình dung một con thuyền nhỏ đưa đẩy trên mặt nước. Nhịp ba cứ một mạnh hai nhẹ, như mái chèo khua rồi nghỉ. Cái hay của ông là đặt chữ Việt vào cái nhịp Tây ấy mà chữ không bị gãy. Dấu nào lên thì nhạc lên, dấu nào xuống thì nhạc xuống, nghe tự nhiên như người ta nói chuyện.
Rồi có Chiều, ông phổ từ thơ Hồ Dzếnh, một thi sĩ cùng thời. Bài viết theo điệu tango, chậm, có những chỗ dừng như người ngập ngừng. Nhiều người coi đây là một trong những bài tango đẹp nhất của tân nhạc. Ông giữ rất kỹ cái buồn nhẹ của câu thơ, không đẩy nó lên thành bi lụy.
Có người nhìn nhạc ông theo ba miền, mỗi miền một bài tiêu biểu. Cho miền Nam là Tiếng Xưa. Cho miền Bắc là Thề Non Nước, phổ thơ Tản Đà. Cho miền Trung là Đêm Tàn Bến Ngự. Năm ra đời của mấy bài này, các nguồn ghi không giống nhau, nên mình chỉ nói là chúng nằm rải rác từ cuối thập niên ba mươi tới đầu thập niên năm mươi.
Tiếng Xưa là một bài rất lạ. Ông viết nó gần với giọng đờn ca tài tử phương Nam, có tiếng đàn, có tiếng nhớ, có cái ngân nga của một buổi chiều xưa cũ. Người nghe nhạc mới nghe thấy quen, người nghe nhạc cổ cũng nghe thấy quen. Đó chính là điều ông theo đuổi: dùng ngôn ngữ âm nhạc phương Tây, nhưng giữ lấy cái hồn của nhạc cổ truyền.
Theo một bài viết của Cung Mi, ông cho rằng người viết nhạc Việt Nam phải thể hiện được cá tính Việt Nam. Ông không chứng minh điều đó bằng lý thuyết. Ông nói bằng cái tai đã thuộc Nam Ai, Nam Bình từ năm mười tuổi.
Và trong ba bài cho ba miền, có một bài gắn với một người. Bài cho miền Trung. Bài của một đêm trên sông Hương.
Người con gái xứ Huế
Minh Trang tên khai sinh là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi mốt, người Huế. Bà học ca Huế, học đàn tranh, học dương cầm từ nhỏ. Bà bắt đầu đi hát khá tình cờ, khi đang làm việc ở một đài phát thanh, có hôm một ca sĩ vắng mặt, bà được nhờ hát thay. Nghệ danh Minh Trang bà ghép từ tên hai người con.
Theo báo Tuổi Trẻ, hai người gặp nhau lần đầu vào năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín, ở Hà Nội. Bà được mời ra hát trong một hội chợ, và chọn ban nhạc có ông ngồi đệm đàn. Sau đó bà trở vào Nam. Bài Ngọc Lan, với cái tên viết nhầm, ra đời sau cuộc gặp ấy.
Ngọc Lan nghe rất trong. Nhà nghiên cứu Phan Thuận Thảo có chỉ ra một chi tiết: bài đi ở một giọng trưởng chừng ba mươi sáu nhịp, rồi chuyển sang một giọng khác mười sáu nhịp, rồi quay về giọng cũ để khép lại. Nói nôm na, giữa bài có một khúc rẽ, như người đang đi bỗng ngoảnh lại, rồi tiếp tục đi. Người nghe không cần biết giọng trưởng, giọng thứ là gì. Chỉ cần thấy lòng mình cũng ngoảnh lại theo.
Đêm Tàn Bến Ngự thì gắn với giọng hát của bà. Phần nhiều nguồn ghi bài ra đời khoảng đầu thập niên năm mươi, cũng có nguồn ghi sớm hơn. Ông không phải người Huế. Vậy mà nhiều người coi đây là bài tân nhạc có hồn Huế nhất. Giai điệu thấm đẫm âm sắc Nam Ai, Nam Bình, những điệu ca ông đã thuộc từ năm lên mười. Minh Trang về sau nói rằng ca Huế nằm sẵn trong máu mình, trong huyết quản mình.
Nghe Đêm Tàn Bến Ngự, mình nên nghe chậm. Câu nhạc cứ ngân dài rồi buông xuống, như tiếng mái chèo đêm trên sông. Có những chữ được luyến qua mấy nốt, đúng kiểu người Huế ngân câu hò. Bài không kể chuyện gì nhiều. Nó chỉ giữ lại một không khí, một đêm, một bến nước. Mà nghe xong, người ta cứ nhớ cái không khí ấy hoài.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi mốt, hai người nên duyên vợ chồng. Cuối năm ấy có Bóng Chiều Xưa. Nhạc của ông, lời của bà. Báo Tuổi Trẻ kể rằng khi xem lời bà viết, ông chỉ nói, thế này cũng được quá rồi. Bà hát lần đầu trên Đài Phát thanh Sài Gòn, và năm sau, trong một cuộc hỏi ý kiến thính giả, bài hát đứng đầu.
Còn có một bài nhỏ hơn, tên là Sóng Lòng. Minh Trang kể rằng vì nhớ bà mà ông viết bài ấy. Trên bàn làm việc của ông có tấm ảnh của bà, đặt cạnh chiếc ra đi ô. Một người đàn ông, một chiếc ra đi ô, một tấm ảnh. Có vậy thôi mà thành một bài hát.
Minh Trang từng nói hai ông bà rất hợp, sống với nhau gần ba mươi năm không có sóng gió gì. Những năm ấy, ở Sài Gòn, ông bắt đầu một nghề khác. Nghề làm thầy.
Người thầy đàn
Từ giữa thập niên năm mươi, ông sống và làm việc ở Sài Gòn. Ông làm ở Đài Phát thanh, phụ trách chương trình Cổ Kim Hòa Điệu, nghĩa là đem đàn cổ ngồi chung với đàn mới. Ông lập ban Tiếng Xưa, có đàn tranh, dương cầm, hai cây vĩ cầm và một cây đàn trầm. Ban nhạc của ông ít trống, ít kèn, để tiếng hát và giai điệu nằm ở giữa.
Ông cũng là một trong những người dạy đầu tiên ở trường âm nhạc Sài Gòn, tiền thân của Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh bây giờ, và trưởng ban ghi ta cổ điển. Mấy lớp nghệ sĩ ghi ta về sau đều từng ngồi trước mặt ông. Ông còn dạy ở nhà, cho những ai được giới thiệu tới.
Học trò nhớ về ông như một người thầy rất mực thước. Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn Kiệt kể ba tháng đầu học đàn, có lúc muốn bỏ, mà thầy chưa bao giờ la mắng hay coi thường. Một người học trò khác, anh Vũ Quang Thiều, nhớ thầy hay gõ nhịp lên mặt bàn. Còn nghệ sĩ Châu Đăng Khoa thì kể có lần tự nghĩ ra một kiểu bấm dây riêng, rụt rè hỏi thầy. Thầy chỉ đáp một câu: được chứ. Chừng ấy chữ, đủ cho người học trò tự tin đi tiếp con đường của mình.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển có một nhận xét về ông mà mình thấy rất đúng: cái gì nơi ông cũng vừa phải, chuẩn mực, rõ ràng. Nhạc của ông cũng vậy. Không có chỗ nào quá tay.
Đầu thập niên sáu mươi, ông viết Ơn Nghĩa Sinh Thành. Báo Tuổi Trẻ ghi rằng đây gần như là bài mới duy nhất của ông trong quãng ấy. Bài nói về công cha nghĩa mẹ, mượn ý một câu ca dao quen thuộc, nhịp chậm vừa, trang nghiêm mà vẫn ấm. Tới bây giờ, mỗi mùa Vu Lan, người ta vẫn hát bài này. Ông còn cùng nhạc sĩ Hùng Lân viết Uống Nước Nhớ Nguồn cho trẻ con.
Những năm cuối đời, ông sống lặng lẽ ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong một căn nhà nhỏ. Ca sĩ Ánh Tuyết kể lần tới nhà ông gửi tiền tác quyền, trong nhà chỉ có một chiếc giường và một chiếc ti vi cũ. Vậy mà ông vẫn ăn mặc chỉnh tề, nói năng chậm rãi, lễ độ. Sau đó ông viết thư cảm ơn, lời lẽ nhã nhặn, vừa khen chỗ mạnh vừa góp ý chỗ yếu trong giọng hát của chị. Ánh Tuyết gọi ông là ông già cốt cách.
Ông mất ngày một tháng tám năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, thọ tám mươi tuổi. Báo Tuổi Trẻ kể đám tang ông vắng lặng đến rưng lòng. Một người cả đời ngồi ở chính giữa những đêm nhạc, ra đi rất khẽ.
Nhưng ông để lại hơn hai trăm bài hát, theo nhiều nguồn ghi lại. Ông để lại mấy thế hệ học trò ghi ta. Ông để lại cái cách ngồi chung giữa đàn tranh và dương cầm, giữa Nam Bình và điệu valse, mà không bên nào phải nhường bên nào.
Nếu tối nay bạn muốn nghe lại ông, hãy bắt đầu bằng Đêm Tàn Bến Ngự, rồi nghe Ngọc Lan. Một bài cho một bến sông, một bài cho một cái tên viết nhầm. Rồi nghĩ tới ông thầy ngồi gõ nhịp lên mặt bàn, kiên nhẫn chờ học trò đánh lại cho đúng. Âm nhạc của ông là vậy, kiên nhẫn, vừa phải, và rất có lòng.
Tình Ca. Ở đây có bình an.