Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 11

Lê Thương – Ông giáo và hòn đá bên đèo

Hòn đá bên đèo

Năm một nghìn chín trăm ba mươi tư, một chàng trai Hà Nội chừng hai mươi tuổi đi vào phương Nam. Qua đèo Cù Mông, tới vùng giáp ranh Phú Yên với Khánh Hòa, anh ngước nhìn lên một đỉnh núi. Giữa trời có một khối đá cao vút, đứng một mình. Anh thấy trong khối đá ấy dáng một người đàn bà, đứng trông về phía xa.

Nhiều năm sau, ông kể lại cái nhìn đó với nhà báo Lê Phương Chi, trong một cuốn sách ghi chuyện trò với văn nghệ sĩ. Ngọn núi ông nhắc là núi Đá Bia, gần đèo Cả. Có điều, người dân quanh đó chưa bao giờ gọi núi Đá Bia là hòn vọng phu. Khi báo Tuổi Trẻ đi theo dấu bài hát, mấy nhà nghiên cứu địa phương cho rằng có lẽ ông đã nhầm với một mỏm đá khác trên đèo.

Nhầm hay không, cũng chẳng sao. Hòn đá ngoài đời ít ai đi tìm. Còn hòn đá ông dựng lên bằng âm nhạc thì người mình đã hát hơn tám mươi năm nay. Đó là Hòn Vọng Phu. Và chàng trai trên chuyến đi năm ấy là Lê Thương.

Tên thật của ông là Ngô Đình Hộ. Phần đông tư liệu ghi ông sinh năm một nghìn chín trăm mười bốn, ở phố Hàm Long, Hà Nội. Cũng có bài ghi ông sinh ở Nam Định, còn hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy thì ghi sớm hơn một năm. Mẹ ông mất khi ông mới chín tuổi. Cậu bé được bà nội nuôi, trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa, và có thời theo học ở trường dòng.

Cái tên Lê Thương là ông tự ghép. Chữ Lê là họ của mẹ. Chữ Thương là tên dòng sông Thương, con sông gắn với những ngày thơ ấu. Một đứa con mất mẹ sớm, lớn lên đem họ mẹ đặt lên đầu tên mình. Chỉ một chi tiết ấy thôi, mình đã thấy đây là một người nặng lòng.

Khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm, ông bắt đầu đi dạy học. Ông không qua một trường nhạc chính quy nào. Nhiều tài liệu kể người lớn trong nhà rất mê nhạc cổ, và cái tai của ông lớn lên trong những làn điệu ấy. Ít lâu sau, ông về dạy ở Hải Phòng.

Hải Phòng những năm ấy có một nhóm thanh niên mê hát. Ông cùng Hoàng Quý, Tô Vũ và Phạm Ngữ lập một nhóm nhỏ, viết bài rồi hát phụ diễn mỗi khi ban kịch của nhà thơ Thế Lữ về thành phố cảng. Rồi có thêm một cậu trai trẻ hơn tên là Văn Cao. Nhóm của họ có một cái tên rất đẹp: Đồng Vọng. Về sau, Văn Cao từng nhận rằng mình học được từ Lê Thương cách giữ lấy cái hồn nhạc cổ của người mình.

Cuối thập niên ba mươi, khi tân nhạc mới chập chững, ông viết Bản Đàn Xuân. Nhiều người xem đây là một trong những bài hát mùa xuân đầu tiên của nhạc mới, và tới giờ Tết đến vẫn còn người hát. Rồi Một Ngày Xanh, Tiếng Đàn Đêm Khuya. Rồi hai bài mượn cảnh sông núi Trung Hoa xưa là Trên Sông Dương Tử và Thu Trên Đảo Kinh Châu.

Nghe những bài này hôm nay, mình sẽ thấy nó khác nhạc bây giờ lắm. Câu nhạc ngắn, chữ đặt sát dấu giọng, lên xuống gần như lời ngâm thơ. Cái buồn trong đó không ồn ào. Nó là cái buồn của một người học trò đọc thơ Đường dưới đèn, thấy mùa thu ở một hòn đảo mình chưa từng tới, mà vẫn thương như thương quê.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, ông giáo trẻ khăn gói vào Nam. Và hòn đá bên đèo năm nào bắt đầu lên tiếng.

Ba lần đứng đợi

Chỗ ông dừng chân đầu tiên ở phương Nam là Bến Tre, xứ dừa. Ông dạy học ở đó một thời gian, rồi mới lên Sài Gòn. Đất mới, người mới, nhưng trong đầu ông vẫn còn mấy hòn đá. Hòn đá trên đèo Cả. Và một hòn đá ở Hà Tiên, người ta gọi là Vọng Phu thạch, mà về sau ông cũng nhắc tới như một nguồn cảm hứng.

Trước Hòn Vọng Phu, ông viết Nàng Hà Tiên. Đó là một truyện ca, tức là một bài hát kể chuyện, có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc. Ông mượn tích tiên và cảnh biển Hà Tiên để nói chuyện lòng mình. Những người cùng thời coi bài này là cái mầm, từ đó mọc lên Hòn Vọng Phu.

Tích người vợ chờ chồng hóa đá thì người mình ai cũng biết. Ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị bồng con. Ở Phú Yên có núi Mẹ Bồng Con. Ông còn kể rằng khi viết, ông chịu ảnh hưởng rất sâu từ Chinh Phụ Ngâm, khúc ngâm cổ nói nỗi lòng người vợ có chồng đi xa. Từ ngần ấy hòn đá và ngần ấy câu thơ, ông dựng một trường ca ba phần, tức là một tác phẩm dài, nhiều đoạn nối nhau thành một câu chuyện.

Phần một tên là Đoàn Người Ra Đi, ra đời ở Bến Tre khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, khi ông đang dạy học ở đó. Theo tích xưa, người chồng phải đi xa theo lệnh vua, hẹn ngày trở lại. Nhạc phần này bước đều và chắc, như tiếng chân một đoàn người lên đường. Nhà biên khảo Đặng Phú Phong ghi rằng bài viết ở giọng Rê thứ, một giọng hơi trầm, hơi buồn, rất hợp với cảnh chia tay.

Phần hai là Ai Xuôi Vạn Lý, viết khoảng cuối năm bốn mươi lăm sang năm bốn mươi sáu, khi ông sống ở vùng quê Mỹ Tho, Bến Tre, giữa những rặng dừa nước gần Bình Đại. Đây là phần buồn nhất. Thời gian trôi, người vợ bồng con lên núi đứng trông. Trời mây như cũng buồn theo. Rồi hai mẹ con hóa đá.

Phần ba là Người Chinh Phu Về, hoàn tất khoảng năm bốn mươi bảy, khi ông đã trở lại Sài Gòn. Người đi xa trở về, nhưng đã muộn. Chỉ còn hòn đá, và dấu chân mòn trên đá. Có người nghe phần này thấy giai điệu dồn dập như vó ngựa phi về. Càng gấp càng xót, vì người nghe biết trước là không kịp.

Điều đặc biệt nhất của Hòn Vọng Phu nằm ở thang âm. Ông dùng ngũ cung, tức là năm cung bậc quen thuộc của nhạc cổ mình, nên giai điệu nghe gần với câu hò, câu ngâm, dù bài được viết theo lối nhạc mới. Lời thì đặt rất khít với dấu giọng tiếng Việt. Chữ mang dấu huyền thì nhạc trũng xuống, chữ mang dấu sắc thì nhạc vươn lên. Người hát không phải uốn chữ, người nghe không phải đoán lời.

Có một chi tiết nhỏ mình rất thích. Theo ông Đặng Phú Phong, trong cả ba phần, chỉ có phần hai là ông nhập vào vai một người đứng chứng kiến, chứ không chỉ đứng ngoài mà kể. Nghĩa là trong buổi chiều mây núi ấy, có một ông giáo đứng nhìn người đàn bà bồng con, và không làm được gì ngoài việc ghi lại.

Các nguồn ghi năm của từng phần lệch nhau chút ít, chỗ sớm chỗ muộn một năm. Nhưng đại khái, ba phần ấy ông viết trong chừng bốn, năm năm. Hơn tám mươi năm rồi, những hòn đá ngoài đời có cái đã đổ. Tượng nàng Tô Thị trên núi ở Lạng Sơn từng sụp xuống vào năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt. Còn ba phần nhạc của ông thì vẫn đứng nguyên.

Rồi ông giáo ấy ở lại Sài Gòn, và gắn với nghề phấn trắng bảng đen thêm mấy chục năm nữa.

Ông giáo của trẻ con

Ở Sài Gòn, việc chính của ông vẫn là đi dạy. Ông dạy sử, dạy địa ở các trường trung học tư. Có một quãng ông làm ở Trung tâm Học liệu, nơi soạn sách và đồ dùng cho trường học. Ông còn dạy môn nhạc sử ở trường âm nhạc của thành phố. Người ngoài gọi ông là nhạc sĩ. Học trò thì gọi ông là thầy.

Nhạc sĩ Phạm Duy, trong hồi ký, có một câu về ông mà nhiều người hay nhắc lại: trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất. Cũng Phạm Duy tả ông là người sống giản dị, dù làm thơ, làm nhạc thì rất bay bướm.

Ông lấy vợ là một người phụ nữ từng đi học bên Pháp. Hai ông bà có chín người con. Một nhà giáo, một nhà đông con, và một cái đài phát thanh. Đó gần như là cả thế giới của ông những năm ấy.

Cái đài phát thanh là thế này. Ông cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban Măng Non trên Đài Phát thanh Sài Gòn, một ban hát dành riêng cho thiếu nhi. Nhiều bài viết coi ông là một trong những người mở đầu dòng nhạc cho trẻ con của tân nhạc Việt Nam.

Tên các bài ông viết cho các em nghe là thấy vui: Con Mèo Mà Trèo Cây Cau, Thằng Bé Tí Hon, Cô Bán Bánh, Tuổi Thơ. Có bài ông lấy ngay câu đồng dao người lớn vẫn đọc cho con nghe, rồi khoác cho nó một giai điệu. Thế là trẻ con có bài để hát, mà không phải mượn nhạc của người lớn.

Và nổi nhất là Thằng Cuội. Bài này ra đời khoảng giữa năm bốn mươi sáu và năm năm mươi tư, không ai ghi được ngày chính xác. Mở đầu là một câu rất hiền: bóng trăng trắng ngà, có cây đa to. Có vậy thôi, mà mấy thế hệ trẻ con Việt Nam lớn lên với nó, nhất là mỗi mùa Trung thu.

Thằng Cuội đi như một khúc đồng dao. Câu ngắn, vần gieo ở cuối câu, nhịp nhún nhảy, đứa nhỏ năm sáu tuổi nghe hai lần là thuộc. Nhưng nghe kỹ thì trong bài có một nỗi buồn rất nhẹ của người lớn. Chú Cuội ngồi gốc cây đa, ở mãi trên cung trăng, không về được. Trẻ con nghe thấy vui. Người lớn nghe lại thấy thương. Một bài hát hay cho trẻ con thường là vậy, có hai tầng, ai nghe cũng có phần của mình.

Chừng mười năm trước, bộ phim Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh, kể chuyện tuổi thơ ở một làng quê miền Trung, dùng Thằng Cuội làm nhạc nền. Thế là cả một lớp khán giả trẻ, sinh ra khi ông đã mất từ lâu, lại được nghe câu hát về chú Cuội trong rạp.

Ngoài trẻ con, ông còn viết nhạc cho phim của hãng Mỹ Vân, phổ nhạc nhiều bài thơ, đặt lời Việt cho một số bài hát nước ngoài. Nhưng đi đâu thì đi, cái nhà giáo trong ông vẫn ở đó. Ông viết như người soạn bài cho lớp: rõ ràng, dễ nhớ, và có một điều để mang về nhà.

Ông giáo ấy cứ thế già đi giữa học trò và trẻ con. Cho tới những năm trí nhớ bắt đầu rời bỏ ông.

Điều ông dặn lại

Những năm cuối đời, ông ngồi viết tay một tập ghi chép dày hơn ba trăm trang, đặt tên là Tạp Sự. Trong đó là chuyện những nghệ sĩ cải lương, những người làm tân nhạc ở phương Nam mà ông từng quen biết. Theo nhà biên khảo Đặng Phú Phong, ông chưa cho in tập ấy. Một ông giáo dạy sử, tới cuối đời vẫn làm đúng việc của nghề mình: ghi lại cho người sau.

Nhà báo Nguyễn Đình San, người có dịp gặp ông ở Thành phố Hồ Chí Minh, kể rằng ông từng nói một câu, về sau được nhắc lại rất nhiều. Đại ý câu ấy là: không mang đậm phong vị dân tộc thì chớ mong tác phẩm sống được lâu, nhất là âm nhạc.

Nghe câu đó, mình hiểu thêm Hòn Vọng Phu. Nghe câu đó, mình cũng hiểu thêm Thằng Cuội. Một bài cho người lớn, một bài cho trẻ con, nhưng cùng mọc lên từ một gốc. Gốc ấy là tích xưa, là câu hò, câu đồng dao, là cái thang năm cung mà bà, mà mẹ mình vẫn hát. Ông không đi tìm cái mới ở đâu xa. Ông cúi xuống nhặt cái cũ lên, lau cho sạch, rồi trao lại cho người sau.

Vài năm trước khi mất, ông mất dần trí nhớ. Người viết những bài hát về nỗi đợi chờ, về một người không bao giờ quên, cuối đời lại là người quên. Ông mất ngày mười bảy tháng chín năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, ở Thành phố Hồ Chí Minh, thọ tám mươi hai tuổi.

Ông có quên thì người nghe vẫn nhớ thay ông. Mỗi mùa Trung thu, ở đâu đó vẫn có một lớp mẫu giáo hát về chú Cuội ngồi gốc cây đa. Mỗi lần có một giọng hát đứng lên hát trọn ba phần Hòn Vọng Phu, khán phòng vẫn lặng đi như lần đầu.

Nếu hôm nay bạn muốn nghe lại Lê Thương, mình gợi ý thế này. Hãy nghe phần hai, Ai Xuôi Vạn Lý, vào một buổi chiều. Đừng làm gì khác. Chỉ nghe cái cách chữ và nhạc dựa vào nhau mà đi. Rồi nghe Thằng Cuội, cùng một đứa nhỏ trong nhà nếu có. Bạn sẽ thấy hai bài cách nhau rất xa, mà vẫn là của cùng một ông giáo.

Một đứa con mất mẹ năm chín tuổi, đem họ mẹ đặt vào tên mình. Một chàng trai đi qua đèo, thấy một hòn đá có khi chẳng phải hòn vọng phu, rồi dựng lên một hòn vọng phu không bao giờ đổ. Một ông giáo dạy sử, mà bài học ông để lại lâu nhất lại là một câu hát cho trẻ con.

Cái còn lại cho mình hôm nay có lẽ là điều ấy. Nhớ cái gốc của mình. Rồi hát nó lên, cho thật hiền.

Tình Ca. Ở đây có bình an.