Những người viết nên Tình Ca · Tập 9
Từ Công Phụng – Người xây lâu đài trên cát
Bài hát cất trong ngăn bàn
Có một bài hát mà rất nhiều người thuộc, nhưng hỏi ai viết thì nhiều người lắc đầu. Có lần, một nhà văn sống ở thành phố Montreal bên Canada đi hỏi thử bạn bè quanh mình. Phần đông không nhớ nổi tên người nhạc sĩ. Nhưng hễ ông ngân lên mấy chữ Bây Giờ Tháng Mấy, thì ai cũng gật đầu, ai cũng hát theo được.
Người viết bài hát ấy về sau nghe chuyện chỉ cười. Ông nói, con nổi tiếng hơn cha thì đó là nhà có phúc. Ông là Từ Công Phụng. Và cái bài hát được nhiều người nhớ hơn tên ông, lúc mới ra đời, đã từng nằm im trong ngăn bàn của một cậu học trò nhút nhát.
Mình kể lại từ đầu. Từ Công Phụng sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, ở làng Văn Lâm, vùng Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Đó là một vùng nắng gió, cát trắng, nơi người Chăm đã sống từ rất lâu đời. Ông là người Chăm. Nhiều người viết về ông hay nhắc rằng nỗi buồn trầm trầm trong nhạc ông có lẽ đến từ chính cái nắng, cái gió và cái tâm tính của miền đất ấy.
Ông không học nhạc ở trường lớp nào. Ông tự mày mò qua sách vở, tự tập đàn, tự ghi nốt. Thời đi học ở Phan Rang rồi lên Đà Lạt, ông là cây văn nghệ quen mặt của trường. Nhưng trong chuyện đưa bài hát của mình ra cho người khác nghe, ông lại rụt rè lạ lùng.
Khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi, khi đang học những năm cuối bậc trung học, chừng mười tám tuổi, ông viết bài hát đầu tay. Trong một chương trình phát thanh về tình ca của ông, người ta kể rằng cảm hứng ban đầu đến từ một bản nhạc của Chopin, nhà soạn nhạc dương cầm người Ba Lan. Bài hát ấy là Bây Giờ Tháng Mấy.
Viết xong, ông cất đi. Mãi đến khi lên Đà Lạt, hát chung với đôi vợ chồng nghệ sĩ Lê Uyên và Phương trong một ban nhạc nhỏ, bài hát mới được đưa lên Đài Phát thanh Đà Lạt, khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba. Rồi nó đi rất nhanh, từ miệng người này sang người khác, nhanh hơn cả tên người viết.
Bài hát nổi tiếng đến mức người ta hát sai lời, chế lời, mỗi nơi một kiểu. Ông không giận. Như mình kể lúc nãy, ông chỉ coi đó là cái phúc của một người cha có đứa con đi xa hơn mình. Vài năm sau, khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi tư, ông viết thêm một bài nữa, như một người anh em sinh sau, gọi là Bây Giờ Tháng Mấy Hai.
Nếu nghe kỹ, mình sẽ thấy Bây Giờ Tháng Mấy không ồn ào. Nó là một câu hỏi rất nhỏ, kiểu người ta hỏi bâng quơ khi ngồi cạnh nhau mà không biết nói gì. Giai điệu đi chậm, có những chỗ nghỉ như hơi thở. Cái hay là nó không cố làm mình buồn, nó chỉ để mình tự nhớ ra một điều gì đã qua.
Từ cậu học trò cất bài hát trong ngăn bàn, Từ Công Phụng bước vào những năm tháng ở Sài Gòn, nơi có những buổi hát mà khán giả ngồi bệt trên bãi cỏ.
Những buổi hát trên bãi cỏ
Đầu thập niên sáu mươi, quanh khuôn viên trường Đại học Văn khoa ở Sài Gòn có những buổi hát rất mộc. Không sân khấu, không đèn màu. Sinh viên kéo nhau ra bãi cỏ, người ôm đàn, người ngồi dưới đất nghe. Từ Công Phụng là một trong những người ôm đàn ấy.
Có một chuyện nhỏ được nhà văn Hồng Thủy kể lại. Lần nọ, ông hát Bây Giờ Tháng Mấy rất tình cờ, ngoài hành lang một khu ký túc xá sinh viên. Một người bạn nghe được, thích quá, đứng ra lo cho bài hát được in để phát hành. Từ đó, tờ nhạc theo chân người yêu nhạc đi khắp nơi.
Những năm sau đó, ông hát ở những câu lạc bộ sinh viên trong trường Văn khoa, mà người ta quen gọi là Quán Tre, Quán Văn, rồi ở Quán Gió trên đường Võ Tánh. Ở những nơi ấy, khán giả ngồi gần đến mức nghe được cả tiếng ngón tay lướt trên dây đàn.
Khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy, ông bắt đầu đứng hát chung với một giọng nữ trẻ tên Từ Dung. Bà là con gái của nhà văn Hoàng Đạo, cháu của hai nhà văn Nhất Linh và Thạch Lam. Bà học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà. Hai người trở thành một đôi song ca quen thuộc với khán giả trẻ lúc ấy.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt, một cuộn băng nhạc tên là Tơ Vàng số ba thu nhiều bài của ông, có những giọng ca như Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà, và đôi song ca Từ Dung, Từ Công Phụng.
Những bài của ông thời ấy đều mang một vẻ riêng. Mưa Trên Ngày Tháng Đó, theo một số tài liệu ghi là khoảng năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám. Tuổi Xa Người, Mùa Thu Mây Ngàn, cũng ra đời trong thập niên sáu mươi. Nghe tên thôi đã thấy mưa, thấy mây, thấy một khoảng cách nào đó giữa hai người.
Có lần ông nói, tình ca của ông mang chất thính phòng. Tức là nhỏ nhẹ, thong thả, như hát trong một căn phòng ít người, chứ không phải để hô vang trên một sân khấu lớn. Ông cũng nói, tình yêu là thứ phải được nâng niu, nên lời ca cho tình yêu cũng phải đẹp, phải có chất thơ.
Về cách đặt lời, ông thích câu ngắn, gọn và có vần. Theo ông, có vần thì người nghe dễ nhớ, dễ mang bài hát theo mình. Nghe nhạc Từ Công Phụng, mình hay gặp những câu chữ như thế: không cầu kỳ, không vòng vo, nói thẳng một nỗi niềm rồi để giai điệu lo phần còn lại.
Những người viết nhạc cùng thời có nhận xét khá giống nhau về giai điệu của ông. Nhạc sĩ Đăng Khánh cho rằng cái hay nằm ở chỗ nó khó đoán. Mình tưởng câu nhạc sẽ đi xuống, thì nó lại vòng lên. Nhà thơ Ngu Yên thì để ý cách ông dùng những dấu lặng, những chỗ nghỉ, khiến câu hát như có người đang ngập ngừng.
Rồi đến khoảng đầu thập niên bảy mươi, nỗi buồn trong nhạc ông dày hơn, sâu hơn. Đó là lúc những giọt nước mắt bắt đầu đi vào tên bài hát.
Những giọt lệ và một cây que diêm
Có một hình ảnh mà Từ Công Phụng hay dùng để nói về mình. Ông ví mình như con dã tràng, kiên nhẫn xây những lâu đài cát cho người yêu nhau. Sóng đến thì cuốn đi, nhưng ông vẫn xây. Ông cũng ví mình như con tằm, nhả tơ cho người khác dệt áo. Bài Kiếp Dã Tràng của ông, có lẽ, là cách ông tự kể về mình.
Mắt Lệ Cho Người là một bài nhiều người nhắc nhất khi nói về ông. Theo phần chú thích trong một tuyển tập nhạc của ông, bài này ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai. Đó là một bài tình ca buồn, nhưng cái buồn của nó không bi lụy. Nó giống như người ta đã chấp nhận, đã hiểu, và chỉ còn biết thương.
Cũng trong những năm ấy có Ơn Em, theo một số tài liệu ghi là năm một nghìn chín trăm bảy mươi. Từ Công Phụng có lần nói đây là bài hát làm người nghe nghĩ nhiều nhất về tấm lòng của người phụ nữ dành cho chồng. Vợ ông thì nói giản dị hơn: bài hát là lời cảm ơn những người vợ đã lặng lẽ hy sinh cho gia đình.
Rồi có Như Chiếc Que Diêm. Một cây que diêm cháy lên, sáng một chút, rồi tắt. Ông từng nói, ý nghĩ về sự ngắn ngủi của đời người đã theo ông từ rất lâu, chứ không phải đợi đến lúc ốm đau mới có. Bài hát nghe như một người ngồi nhìn ngọn lửa nhỏ, không than thở, chỉ lặng lẽ biết rằng nó sẽ tắt.
Bên cạnh những bài ông tự viết lời, Từ Công Phụng còn phổ nhạc cho thơ, nhiều nhất là thơ của Du Tử Lê. Bài được nhớ nhất trong số ấy là Trên Ngọn Tình Sầu, phổ từ thơ Du Tử Lê. Khi phổ, ông hay thêm chữ, sửa câu cho bài thơ vừa với giai điệu, nên nghe lên vẫn thấy rất là nhạc Từ Công Phụng.
Nhà thơ Du Tử Lê từng gọi ông là người nói thay cho tình yêu của tuổi trẻ thời ấy. Và một người bạn văn của ông viết rằng tình ca Từ Công Phụng đi vào từng dòng máu của những người yêu nhau. Nói vậy có thể hơi nhiều chữ, nhưng ai từng hát Mắt Lệ Cho Người lúc còn trẻ thì sẽ hiểu.
Ông có một câu mà nhiều người nhớ: nếu có điều gì vĩnh cửu thì đó là tình yêu. Và một câu khác, ông nói với báo Thanh Niên, rằng có những nỗi buồn mình không thổ lộ ra ngoài được, để trong lòng, và tự nhiên nó phát ra bằng âm nhạc.
Cách nghe nhạc ông có lẽ cũng nên như vậy. Đừng nghe để tìm một câu chuyện có đầu có đuôi. Hãy nghe như nghe một người bạn tâm sự, có lúc ngập ngừng, có lúc dừng hẳn, rồi mới nói tiếp. Những chỗ chuyển giọng trong nhạc ông thường đến rất nhẹ, như người ta đổi chỗ ngồi để nhìn một nỗi buồn từ phía khác.
Những năm sau, cuộc đời đưa ông đi xa, rất xa những đồi cát Phan Rang.
Sống để tạ ơn
Từ cuối năm một nghìn chín trăm tám mươi, Từ Công Phụng sống ở thành phố Portland, bang Oregon, bên nước Mỹ. Ở đó, ông có một mái nhà mới với người bạn đời là bà Kim Ái. Bà lo việc làm ăn của gia đình, để ông có thời gian ngồi với cây đàn. Mỗi năm, ông viết đều đặn chừng một, hai bài.
Ông từng nói một điều mà mình nghĩ ai sống xa quê cũng hiểu. Phong cảnh ở nơi mới đẹp lắm, nhưng không có kỷ niệm, không có dấu vết của những cuộc tình. Mà với ông, chính kỷ niệm mới làm một nơi chốn có ý nghĩa.
Ông dành riêng cho vợ mấy bài hát: Tạ Ơn Em, Mãi Mãi Bên Em, và Giữ Đời Cho Nhau. Bài Giữ Đời Cho Nhau ông phổ từ một bài thơ của Du Tử Lê. Nghe ba cái tên ấy, mình thấy tình ca của ông đã đổi màu. Không còn là những giọt lệ cho người xa, mà là lời cảm ơn cho người ở lại bên mình.
Năm hai nghìn lẻ bảy, ông bị bệnh nặng và phải mổ một ca kéo dài sáu tiếng. Ba năm sau, khoảng giữa năm hai nghìn mười, các bác sĩ cho biết bệnh đã ở giai đoạn cuối, và nói ông chỉ còn chừng ba tháng. Ông kể với báo chí rằng ông đón tin ấy bình tĩnh. Ông tin vào thuốc men, vào ý chí, và nhất là vào sự chăm sóc của vợ.
Rồi ông vượt qua. Ông nói với báo Thanh Niên một câu rất giản dị: tôi nghĩ mình phải sống để còn tạ ơn cuộc đời này. Và cũng từ đó, ông khuyên những người quanh mình hãy biết quý người thân, hãy làm đẹp cho những người chung quanh, vì đời người ngắn lắm.
Tháng Tám năm hai nghìn mười một, ở Portland có một đêm nhạc mừng năm mươi năm tình ca của ông. Hội trường hơn sáu trăm chỗ ngồi kín người, chương trình kéo dài hơn năm tiếng. Đêm ấy có hơn hai mươi bài, đi từ những năm sáu mươi đến những bài viết khi ông đã ở xa.
Trước đó, từ năm hai nghìn lẻ tám, ông đã về lại Việt Nam để hát cho khán giả trong nước. Tháng Giêng năm hai nghìn mười ba, ông đứng trên sân khấu Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh, cùng hai giọng ca Tuấn Ngọc và Ý Lan. Ý Lan nói vui rằng cô là thế hệ thứ hai hát nhạc ông, sau mẹ cô là danh ca Thái Thanh.
Ông hay tự ôm đàn hát nhạc của mình. Giọng ông không khỏe, lên cao thì hơi yếu. Nhưng chính vì vậy mà nghe rất thật, như một người kể lại chuyện của chính mình, không cần ai hát thay.
Có một câu ông viết cho người nghe từ nhiều năm trước, và ông xem đó là điều tâm đắc nhất: tình ca là con đường tôi đã chọn và cưu mang một đời. Ông cũng từng nói rằng nỗi đau, nếu nhìn theo một cách khác, vẫn là một chút hạnh phúc còn đọng lại trong đời người.
Mình nghĩ đó là điều nhạc Từ Công Phụng để lại cho mình hôm nay. Không phải nỗi buồn, mà là cách giữ nỗi buồn cho đẹp. Biết cảm ơn những gì đã có, biết xin lỗi những gì chưa trọn, và biết rằng những lâu đài cát dù sóng có cuốn đi, thì lúc xây, mình đã thật lòng.
Lần tới, nếu có ai hỏi mình bây giờ tháng mấy, mình cứ trả lời cho đúng. Rồi ngồi lặng thêm một chút, để nhớ một người. Tình Ca. Ở đây có bình an.