Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 8

Cung Tiến – Cậu học trò và cây đàn suốt đời

Đứa con đầu lòng

Có một cậu học trò mười bốn tuổi. Lần đầu xa Hà Nội, vào sống ở phương Nam. Cậu nhớ nhà. Nhớ những con phố, những mùa lá. Và cậu ngồi xuống, viết một bài hát.

Bài hát ấy tên Hoài cảm. Năm đó là năm một nghìn chín trăm năm mươi ba. Hơn năm mươi năm sau, khi được một phóng viên đài phát thanh hỏi lại, ông nói rằng với ông, bài ấy là đứa con đầu lòng. Ông vẫn thích nó, vì nó giản dị.

Cậu học trò ấy tên thật là Cung Thúc Tiến. Người nghe nhạc gọi ông là Cung Tiến.

Ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi tám ở Hà Nội. Hồi đi học trung học, ông học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ đàn anh là Chung Quân và Thẩm Oánh. Xướng âm là đọc nốt nhạc thành tiếng hát. Ký âm là nghe rồi ghi lại thành nốt. Đó là những bài học vỡ lòng, nhưng ông học rất kỹ.

Về tuổi của ông khi viết Hoài cảm, các nguồn hơi lệch nhau. Chính ông kể là mười bốn tuổi. Mấy tờ báo trong nước khi đưa tin ông mất lại ghi là mười lăm. Mình chọn tin lời ông. Mà mười bốn hay mười lăm, thì cũng là một đứa trẻ.

Cùng năm ấy, ông viết thêm Thu vàng. Hai bài, cùng một nỗi nhớ, cùng một mùa thu nhìn từ xa.

Bạn thử nghe lại Hoài cảm mà để ý cách bài mở đầu. Không có màn dạo đầu rườm rà, không có câu nào gắng sức. Giai điệu đi từng bước nhỏ, lên xuống rất gần, như một người đang nói khẽ với chính mình. Đến đoạn giữa, câu nhạc mới vươn lên một chút, rồi lại lặng xuống. Cái hay của nó là sự tiết chế. Một cậu bé mười bốn tuổi mà đã biết giữ lại, không nói hết.

Thu vàng thì mềm hơn, có màu hơn. Ông chọn mùa thu, chọn màu lá, để chứa nỗi nhớ. Mùa thu trong bài không phải để tả. Nó là cái khung cho một tâm trạng.

Người ta thường nghĩ một bài hát viết ở tuổi ấy chỉ là bước tập. Nhưng Hoài cảm đã được hát suốt bảy chục năm. Có nhà báo viết rằng từ khi ra đời tới nay, bài hát ấy chưa lúc nào ngừng tỏa hương. Một người viết khác trên báo Pháp luật Việt Nam kể lại lần nghe Thái Thanh hát Hoài cảm trong một quán cà phê nhỏ ở Sài Gòn. Mình nghĩ nhiều người trong chúng ta cũng từng có một buổi như thế.

Và chỉ mấy năm sau, cậu học trò ấy viết một bài mà chính ông quý nhất đời.

Hương xưa và tiếng đàn nguyệt

Năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu, ông mười tám tuổi. Ông đọc bài thơ Nguyệt cầm của Xuân Diệu. Nguyệt cầm là cây đàn nguyệt, cây đàn có bầu tròn như mặt trăng. Bài thơ của Xuân Diệu buồn và rất lạ, chữ nào cũng như có tiếng ngân.

Ông phổ bài thơ ấy thành ca khúc cùng tên. Nhưng một bài báo về nhạc ông có nhận xét rằng phần nhạc của Nguyệt cầm gần như là một sáng tác mới hoàn toàn. Ông không đi theo nhịp thơ một cách ngoan ngoãn. Ông nghe bài thơ, rồi viết ra cái âm thanh mà bài thơ gợi lên trong đầu mình.

Đây là điều rất đáng để ý ở Cung Tiến. Ngay từ trẻ, ông đã nghĩ về bài hát như một bản nhạc, chứ không chỉ là một giai điệu để chở lời.

Năm sau, một nghìn chín trăm năm mươi bảy, ông viết Hương xưa. Báo chí trong nước khi viết về ông đều nhắc rằng đây là bài ông quý nhất. Người hát đầu tiên là ca sĩ Duy Trác. Rồi qua nhiều thế hệ, có Sĩ Phú, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, rồi Trần Thu Hà, mỗi người một cách.

Hương xưa nghe thế nào? Bạn thử để ý những khoảng nghỉ. Giữa các câu hát có những chỗ trống, những hơi thở dài. Người hát vội là hỏng bài. Câu nhạc lại có những bước nhảy xa, đòi giọng hát phải vững và phải sâu. Đó không phải bài để hát cho vui trong một buổi liên hoan. Đó là bài để ngồi yên mà nghe.

Cái hương xưa trong bài không biết là hương gì. Có thể là hương tóc, có thể là hương của một buổi chiều cũ. Ông không nói rõ. Và chính vì không nói rõ, mỗi người nghe tự đặt vào đó một kỷ niệm của mình.

Có một điều thú vị. Hoài cảm, Thu vàng, Hương xưa, ba bài hát người ta thuộc nhiều nhất của ông, đều viết khi ông chưa tới hai mươi tuổi. Cả phần đời sau, ông viết nhiều thứ khác, sâu hơn, khó hơn. Nhưng người ta vẫn nhớ ông qua ba bài của tuổi học trò.

Ông có buồn vì điều đó không? Mình không biết. Mình chỉ biết rằng ngay sau Hương xưa, ông xếp va li đi học. Và ông không học nhạc.

Người học kinh tế, và học nhạc suốt đời

Năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, Cung Tiến sang Úc du học. Ông học ngành kinh tế. Trong cuộc phỏng vấn với một đài phát thanh, ông kể lý do khá giản dị. Học bổng ra nước ngoài lúc ấy không có ngành âm nhạc. Thế là ông chọn kinh tế.

Nhưng ở Sydney, ông vẫn đi học nhạc. Ông học dương cầm, học hòa âm, học phối khí ở nhạc viện. Hòa âm là cách chồng các nốt lên nhau cho ra một hợp âm đẹp. Phối khí là chia giai điệu cho từng nhạc cụ trong dàn nhạc. Ban ngày học kinh tế, ngoài giờ học những thứ ấy. Ông ở đó tới năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba.

Ông có một câu nói về kinh tế mà mình rất thích. Ông bảo kinh tế học không phải là một khoa học, mà là một nghệ thuật giữa kẻ mua người bán. Một người nhìn cả kinh tế bằng con mắt nghệ sĩ, thì cũng dễ hiểu tại sao ông không bao giờ bỏ được âm nhạc.

Về nước, ông còn viết văn, viết phê bình, dịch sách. Những bài ấy ông ký một tên khác là Thạch Chương. Ông dịch cả Dostoevsky, nhà văn lớn của nước Nga. Một người viết nhạc, mà sống giữa chữ nghĩa nhiều như một nhà văn.

Đầu những năm bảy mươi, ông lại đi học. Lần này ở Đại học Cambridge, bên nước Anh, ngành kinh tế phát triển. Và lại như cũ, ông ngồi vào những lớp lịch sử âm nhạc, lý thuyết âm nhạc của trường. Không ai bắt ông học. Ông học vì muốn hiểu.

Những năm sau, ông sống ở Mỹ. Âm nhạc vẫn đi theo ông, nhưng không còn là những tình khúc nhỏ. Ông bắt đầu viết những tác phẩm lớn hơn.

Năm một nghìn chín trăm tám mươi bảy, ông viết một tấu khúc lấy cảm hứng từ Chinh phụ ngâm, khúc ngâm cổ quen thuộc của văn chương Việt Nam. Tác phẩm viết cho hai mươi mốt nhạc cụ phương Tây. Năm sau, nó được trình diễn lần đầu ở San Jose, bên California.

Bạn thử hình dung. Một khúc ngâm cổ của người Việt, cái giọng ngâm buồn buồn mà ông bà mình hay đọc, được đặt vào tay một dàn nhạc phương Tây. Ông không bỏ cái hồn Việt. Ông chỉ cho nó một bộ áo khác.

Năm hai nghìn không trăm lẻ ba, ông còn viết một bài dựa trên một làn điệu chèo, tên Lơ thơ tơ liễu buông mành. Càng về sau, ông càng đi tìm lại cái gốc dân ca.

Những bài thơ được nghe thành nhạc

Phần lớn những năm sau này, Cung Tiến phổ thơ. Nhưng ông chọn thơ rất kỹ, và mỗi bài thơ đến với ông đều có một câu chuyện.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi tư, nhà thơ Phạm Thiên Thư viết bài Vết chim bay, ngay sau khi ông đi tu. Mười một năm sau, Cung Tiến mới phổ bài thơ ấy. Mười một năm. Một bài thơ nằm trong lòng người nhạc sĩ lâu như vậy mới thành tiếng hát.

Có bài Mai chị về, còn gọi là Kẻ ở, phổ từ bài thơ Dặm về. Bài thơ này có một số phận lạ. Suốt mấy chục năm, nhiều người cứ tưởng là của nhà thơ Quang Dũng. Chính Quang Dũng đã nói ông không phải tác giả. Về sau, báo Thanh Niên dẫn lại tư liệu cho biết người viết là ông Nguyễn Đình Tiên, quê Ninh Bình, viết khi mới hai mươi mốt tuổi.

Năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, ông viết Khói hồ bay. Bài phổ từ bài thơ Thu ở Vermont của ông Nguyễn Tường Giang, con trai út của nhà văn Thạch Lam. Một người bạn thân đưa bài thơ cho ông. Đọc xong, ông thích ngay.

Những bài này người ta gọi là ca khúc nghệ thuật. Nghĩa là tiếng đàn không chỉ đệm cho giọng hát, mà cùng kể chuyện với giọng hát. Câu nhạc theo sát từng chữ thơ, chỗ nào cần ngân thì ngân, chỗ nào cần lặng thì lặng. Nghe không dễ như Hoài cảm. Nhưng nghe kỹ, sẽ thấy cũng là cái người ấy, cũng một nỗi nhớ, chỉ là đã già đi, sâu đi.

Năm hai nghìn không trăm lẻ tám, ca sĩ Camille Huyền ra một đĩa nhạc gồm các ca khúc nghệ thuật của ông, nhân dịp Festival Huế. Bà là người đầu tiên hát Vết chim bay ở trong nước.

Ngày mười tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, Cung Tiến mất ở California, thọ tám mươi tư tuổi. Đám tang chỉ có gia đình và bạn thân. Tro cốt của ông được gửi ở một công viên tưởng niệm bên ấy.

Cuối năm ấy, ngày mười tám tháng mười hai, ở Nhà hát Bến Xuân bên sông Hương, người ta làm một đêm nhạc tưởng nhớ ông. Mười lăm bài hát của ông được hát lên. Tiền bán vé gửi tặng các em nhỏ bị ung thư ở Bệnh viện Trung ương Huế. Ông chủ nhà hát có nói rằng nhạc của Cung Tiến có cái nền học thuật phương Tây, mà vẫn giữ được tinh thần phương Đông.

Mình nghĩ về cậu học trò mười bốn tuổi ngày nào. Viết một bài hát vì nhớ nhà. Rồi đi học suốt đời, học kinh tế, học nhạc, học chữ. Đi rất xa, mà cuối cùng nhạc của ông lại về ngồi bên một dòng sông ở Huế, làm một việc tử tế cho mấy đứa trẻ.

Nếu hôm nay bạn có mười phút yên tĩnh, hãy nghe lại Hoài cảm. Nghe xem một đứa trẻ đã biết giữ lại nỗi nhớ của mình nhẹ nhàng thế nào. Có những điều không cần nói to mới đi được xa.

Tình Ca. Ở đây có bình an.