Những người viết nên Tình Ca · Tập 7
Đoàn Chuẩn – Mùa thu trên phím đàn trượt
Tờ nhạc in sau quảng cáo nước mắm
Mình kể bạn nghe về một tờ nhạc cũ. Giấy đã ngả vàng. Mặt trước là một bài hát tên Ánh trăng mùa thu. Còn mặt sau, bạn đoán thử xem in gì. Không phải lời bài hát. Mà là quảng cáo nước mắm. Có ghi cả các đại lý bán hàng, ở Hà Nội, ở Hải Phòng, và ở tận Paris.
Tờ nhạc ấy về tới tay gia đình người nhạc sĩ khi ông đã mất. Trên đó còn nét chữ tay của ông, ghi bài hát được viết ở Đống Năm, thuộc Thái Bình. Có nguồn nói tờ nhạc được in vào đầu năm một nghìn chín trăm năm mươi ba. Có nguồn lại dựa vào nét chữ, cho rằng bài được viết từ năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy. Nếu đúng vậy, đây có thể là bài sớm nhất của ông, sớm hơn cả những bài người ta vẫn xem là đầu tay.
Người nhạc sĩ đó là Đoàn Chuẩn. Và cái hãng nước mắm in quảng cáo sau lưng bài hát, chính là cơ nghiệp nhà ông.
Đoàn Chuẩn sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn, ở Cát Hải, Hải Phòng. Nhà ông làm nước mắm Vạn Vân, một cái tên nổi tiếng khắp miền Bắc thời ấy. Cha ông là cụ Đoàn Đức Ban, người dựng nên thương hiệu. Từ năm một nghìn chín trăm mười sáu, cụ đã mở cửa hàng ở phố Hàng Nâu, Hà Nội. Ngôi nhà số chín phố Cao Bá Quát về sau thành nơi thờ tự của dòng họ Đoàn.
Nhà giàu tới mức nào? Con trai ông, nghệ sĩ Đoàn Đính, từng kể với báo rằng gia đình có sáu chiếc ô tô. Riêng cụ thân sinh của Đoàn Chuẩn có một chiếc Cadillac, loại xe sang của Mỹ, mà theo lời kể, cả xứ lúc đó chỉ có hai chiếc. Người ta gọi Đoàn Chuẩn là công tử Bạc Liêu của đất Bắc. Chính con trai ông cũng nói vui, cha mình là một tay chơi có hạng.
Nhưng cái đáng kể không phải là ô tô. Cái đáng kể là ông đã đổi một chiếc ô tô để lấy một cây đàn.
Đó là cây Hạ uy cầm, tức cây ghi ta Hawaii. Đàn đặt nằm ngang trên đùi, tay trái không bấm phím mà lướt một thỏi kim loại trên dây. Tiếng đàn vì thế không đứt từng nốt. Nó trượt, nó ngân, nó luyến từ nốt này sang nốt kia như một tiếng thở dài. Nghệ sĩ Đoàn Đính kể, cha ông yêu cây đàn ấy hơn mọi thứ trên đời.
Ông học đàn ghi ta với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, rồi học Hạ uy cầm với một người thầy ở Hà Nội. Theo lời con trai, người thầy ấy dạy được ít buổi đã nói học trò vượt mình rồi. Ông còn ngồi bên máy thu thanh, nghe bài hát trên đài, rồi chép tay lại từng nốt. Một cậu công tử con nhà giàu, mà kiên nhẫn như một người thợ.
Mười tám tuổi, ông lấy vợ. Bà Nguyễn Thị Xuyên là bạn học cùng tuổi, nhà bán nụ vối. Hai ông bà có sáu người con, hai gái, bốn trai. Bà là người giữ tiền, giữ nếp nhà, để ông yên tâm mà mơ mộng.
Và rồi, những giấc mơ ấy bắt đầu thành bài hát.
Những mùa thu viết bằng tiếng đàn
Có mấy năm gia đình ông rời Hà Nội, về sống ở Thanh Hóa. Ở đó ông gặp bạn văn nghệ, đi hát cùng nhau. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám, ông viết Tình nghệ sĩ, rồi Lá thư. Hai bài ấy lâu nay vẫn được xem là những bài mở đầu cho cả sự nghiệp của ông.
Trong Lá thư, có một chữ mà người hát nhạc ông rất thích nhắc. Ông không viết trang giấy, ông viết lòng giấy. Nghệ sĩ Đức Long từng phân tích với báo Tiền Phong rằng cách dùng chữ ấy rất riêng. Tờ giấy không còn là đồ vật. Nó có lòng, như người viết thư.
Khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi, ông trở lại Hà Nội. Nhà Tinh Hoa in nhạc ông thành loạt, dưới cái tên nhạc Đoàn Chuẩn, lời Từ Linh. Ông còn là chủ rạp Đại Đồng ở số bốn mươi sáu phố Hàng Cót, một chỗ hát nhạc của Hà Nội thời ấy.
Và từ đây, mùa thu bắt đầu trở thành của ông. Có bài báo đếm, ông viết mười một bài về mùa thu. Hơn bất kỳ người viết nhạc nào cùng thời.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi là Thu quyến rũ. Năm một nghìn chín trăm năm mươi hai là Gửi gió cho mây ngàn bay. Năm một nghìn chín trăm năm mươi tư là Lá đổ muôn chiều. Đó là năm tháng theo cách ghi phổ biến nhất trên báo chí trong nước.
Bạn thử nghe lại Thu quyến rũ mà để ý cái nhịp. Nó chậm. Chậm như bước chân người ta đi dạo dưới hàng cây, chứ không phải chậm vì buồn. Đoàn Chuẩn hay viết theo điệu slow, cái điệu khiêu vũ chậm của các phòng trà Hà Nội. Người ta gọi đùa ông là ông vua nhạc slow.
Rồi bạn để ý những chỗ giai điệu luyến. Nhiều chữ được kéo dài qua hai ba nốt, trượt lên trượt xuống rất mềm. Đó chính là tiếng cây Hạ uy cầm. Ông nghĩ bằng cây đàn ấy, nên câu hát của ông cũng trượt như thỏi kim loại trên dây đàn. Hát nhạc Đoàn Chuẩn mà hát cứng, hát từng chữ rời, là mất hết.
Gửi gió cho mây ngàn bay thì khác một chút. Bài có cái mênh mang của trời cao, câu nhạc mở ra rộng hơn. Còn Lá đổ muôn chiều thì nghe như một người đứng rất lâu ở một chỗ, nhìn lá rơi mà không nói gì.
Mùa thu trong nhạc ông không phải mùa thu trong sách. Đó là mùa thu có thật của Hà Nội. Có heo may, có lá vàng rụng trên phố, có màu áo của người con gái đi qua. Ông không tả cảnh nhiều. Ông chỉ chạm vào một hai chi tiết, rồi để cho giai điệu nói phần còn lại.
Nhà nghiên cứu Trương Quý, người viết sách về nhạc Hà Nội, có nhận xét rằng Đoàn Chuẩn là người ít nói, ít giải thích về bài hát của mình, cũng không giỏi quảng bá. Ông làm nhạc như một người chơi. Vậy mà nhạc ông đi rất xa.
Nhưng trên tất cả những tờ nhạc ấy, bao giờ cũng có hai cái tên. Và cái tên thứ hai, là cả một câu chuyện.
Người bạn đứng tên chung, và những bài hát tặng người
Từ Linh là ai? Câu hỏi này người nghe nhạc đã hỏi suốt mấy chục năm.
Theo các bài báo trong nước, Từ Linh là tên khác của ông Tạ Đình Thâu, một người bạn rất thân của Đoàn Chuẩn. Ông Thâu chơi đàn giỏi và làm nghề nhiếp ảnh. Có tài liệu ghi ông sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, mất năm một nghìn chín trăm chín mươi hai.
Nhưng chính Đoàn Chuẩn lại nói rõ ông là người viết cả nhạc lẫn lời. Nhà phê bình Đặng Tiến có ghi lại điều này, và cho biết không thấy ai đứng ra cải chính. Vậy tại sao lại có tên Từ Linh? Con cháu ông kể, đó là cách ông quý một người bạn. Bạn là người nghe bài hát đầu tiên, góp ý đầu tiên. Ông ghi tên bạn bên cạnh tên mình.
Và điều làm mình cảm động nhất là thế này. Sau khi người bạn mất, những bài ông viết thêm vẫn ghi tên Từ Linh. Gia đình ông về sau vẫn chia tiền tác quyền với các con của ông Thâu. Một cái tên đứng chung trên tờ nhạc, mà giữ trọn cả đời người.
Rồi đến chuyện những bài hát tặng người. Đoàn Chuẩn đa tình. Điều đó không ai giấu, kể cả vợ ông. Bà Xuyên từng nói với báo rằng ông lãng mạn, và mỗi bài hát là kỷ niệm của một mối tình. Có lúc bà cũng buồn. Nhưng bà chọn thông cảm.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi mốt là Chuyển bến. Trong bài có hình ảnh tro tàn, một chữ rất lạ trong tình ca thời đó. Tình yêu không chỉ là hoa lá. Tình yêu cũng có lúc cháy xong, chỉ còn lại tro, mà người ta vẫn nâng niu.
Khoảng cuối năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, đầu năm sau, ông viết Tà áo xanh. Có lần tái bản, ông đổi tên thành Dang dở. Đó là một mối tình câm, đẹp mà không thành. Rất lâu sau, hơn nửa thế kỷ, một nữ danh ca của Hà Nội ngày ấy mới kể với báo rằng bài hát được viết cho bà. Bà cũng nói bà không đến với ông, vì ông đã có gia đình.
Người ta còn kể một giai thoại. Rằng ông gửi cho một người đẹp mỗi tuần một bông hồng, tới bông thứ một nghìn thì cô ấy mới xiêu lòng. Nghe rất thơ. Nhưng con trai ông, nghệ sĩ Đoàn Đính, đã nói thẳng với báo rằng chuyện ấy không có thật. Mình kể ra đây, cũng là để bạn biết mà đừng tin.
Có một tập nhạc tên rất lạ: Bài ca bị xé. Các nguồn kể khác nhau. Có bài báo nói đó là mấy bài ông viết riêng cho một ca sĩ, mỗi bài chỉ in một lần. Có bài báo lại kể rằng người ấy trả lại thư, xé bài hát đi. Mình không biết bản nào đúng. Mình chỉ biết cái tên ấy nghe đã thấy đau.
Nhạc tình của Đoàn Chuẩn sang trọng, nhưng không lạnh. Nó là tiếng của một người biết mình đang yêu những điều không giữ được. Và có lẽ vì vậy, càng về sau, ông càng lặng.
Những năm lặng lẽ và tờ giấy cuối đời
Từ khoảng giữa thập niên năm mươi, Đoàn Chuẩn gần như thôi viết. Các nguồn nói khác nhau về quãng lặng ấy. Có nơi nói ông hầu như không viết bài mới suốt hơn ba mươi năm. Có nơi lại nói ông vẫn viết đôi bài, vào những năm tám mươi, chín mươi. Chỉ biết chắc một điều, ông viết rất ít, và sống rất kín đáo.
Ông ở nhà, dạy đàn. Những buổi chiều trong ngôi nhà phố Cao Bá Quát, tiếng Hạ uy cầm vẫn ngân. Chỉ là bây giờ nó dành cho học trò, chứ không dành cho sân khấu.
Có một bài hát từ những năm ấy, mãi sau mới được người ta biết tới. Bài tên Thuở trâm cài. Theo nghệ sĩ Đoàn Đính, bài được viết vào những năm sáu mươi. Ông ký một bút danh khác là Việt Tử, và tặng cho cô học trò tên Bạch Liên. Một người họ hàng tìm lại được bản nhạc. Đến năm hai nghìn không trăm mười bốn, nhân dịp chín mươi năm ngày sinh của ông, gia đình mới đưa bài hát ra trong một đêm nhạc. Nghe nói đây là bài duy nhất ông viết theo điệu bolero.
Đầu năm hai nghìn, ông bị tai biến mạch máu não. Sau cơn bệnh, ông mất khả năng nói. Từ đó cho tới cuối đời, muốn nói điều gì, ông viết ra giấy.
Bạn thử hình dung. Một người cả đời nói bằng tiếng đàn trượt, những câu hát luyến láy mềm như hơi thở. Cuối đời lại chỉ còn nói được bằng nét chữ trên tờ giấy. Mà bắt đầu cũng là tờ giấy. Tờ nhạc in sau quảng cáo nước mắm. Cả một đời, đi từ tờ giấy này tới tờ giấy kia.
Đoàn Chuẩn mất vào ngày mười lăm tháng mười một năm hai nghìn không trăm lẻ một, tại Hà Nội, ở tuổi bảy mươi bảy. Sáu năm sau, bà Xuyên cũng đi. Gia đình đưa mộ bà về nằm cạnh mộ ông, ở Như Quỳnh, Hưng Yên. Người vợ từng thông cảm với tất cả những bài hát tặng người khác, cuối cùng là người nằm bên ông.
Báo chí có ghi lại một câu ông để lại. Đại ý rằng rồi những người tình sẽ ra đi, rồi người nhạc sĩ cũng ra đi, chỉ còn tác phẩm ở lại.
Câu ấy đúng. Mỗi mùa thu, khi gió heo may về trên phố Hà Nội, vẫn có người bật lại Thu quyến rũ. Vẫn có người hát Gửi gió cho mây ngàn bay trong một quán nhỏ. Họ có thể không biết gì về nước mắm Vạn Vân, về chiếc xe đổi lấy cây đàn, hay về người bạn đứng tên chung. Họ chỉ biết bài hát ấy làm lòng mình chùng xuống, một cách rất dịu dàng.
Nếu tối nay bạn nghe lại một bài của Đoàn Chuẩn, mình nhờ bạn một điều. Đừng nghe vội. Hãy để ý những chỗ giai điệu trượt đi, kéo dài một chữ qua mấy nốt. Đó là tiếng cây đàn ông yêu nhất. Đó cũng là cách ông nói, khi lời không đủ.
Tình Ca. Ở đây có bình an.