Những người viết nên Tình Ca · Tập 5
Lam Phương – Cậu bé Rạch Giá và những tờ nhạc
Con sông, ngôi chùa và một chuyến đi xa
Có một cậu bé chừng mười tuổi, đứng bên bờ sông ở Rạch Giá. Bên kia sông là một ngôi chùa. Chiều chiều tiếng chuông vọng qua mặt nước, có ghe xuồng chèo ngang, có ruộng lúa chạy xa tít về phía chân trời. Cậu bé chưa biết rằng mấy hình ảnh rất bình thường đó sẽ đi theo mình gần trọn một đời, và sẽ đi vào hàng trăm bài hát.
Rồi một ngày, người mẹ gửi cậu lên Sài Gòn, ở với người bác ruột, để đi học. Cậu bé ấy tên là Lâm Đình Phùng. Sau này, cả nước biết đến cậu bằng một cái tên khác: Lam Phương.
Ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, ở làng Vĩnh Thanh Vân, nay thuộc thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Theo báo Tri Thức, gia đình ông gốc Hoa nhưng đã sống như người Việt từ đời cha. Ông là con trai lớn, dưới còn năm đứa em. Người cha đi xa rồi không trở về. Mẹ ông, bà Trần Thị Nho, một mình nuôi sáu đứa con.
Mình hay nghĩ, nhiều khi cái nghèo không làm người ta cứng lại, mà làm người ta mềm đi. Cậu con trai lớn của một bà mẹ tảo tần, sớm phải xa nhà, sớm biết nhớ. Cái nhớ đó, cậu chưa biết đặt vào đâu. Cho đến khi cậu gặp âm nhạc.
Ở Sài Gòn, cậu ở trọ gần nhà thờ Tân Định. Cậu tự mày mò học nhạc. Nhạc sĩ Hoàng Lang dạy cho cậu mà không lấy tiền, rồi sau đó nhạc sĩ Lê Thương chỉ bảo thêm. Hai người thầy ấy mở cho cậu một cánh cửa. Phần còn lại, cậu tự đi.
Cái bút danh cũng có một câu chuyện nhỏ. Lam Phương được ghép từ chính họ tên Lâm Đình Phùng. Báo Tiền Phong ghi rằng cái tên ấy mang ý nghĩa hướng về một phương trời màu xanh, màu của hy vọng. Một cậu bé xa nhà, đặt cho mình một cái tên như thế, thì cũng đủ hiểu cậu đang mong điều gì.
Mười lăm tuổi, một buổi chiều thu
Năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, khi đang học ở trường Les Lauriers, nghĩa là trường Nguyệt Quế, ở Sài Gòn, Lam Phương viết bài hát đầu tay. Ông mới mười lăm tuổi. Bài hát tên là Chiều Thu Ấy.
Mười lăm tuổi viết một bản tình ca, nghe thì lạ, nhưng thật ra cũng dễ hiểu. Ở tuổi đó, người ta yêu bằng tưởng tượng nhiều hơn bằng kinh nghiệm. Và mùa thu thì luôn là cái cớ đẹp nhất để buồn. Bài hát chưa làm ai biết đến ông, nhưng nó là viên gạch đầu tiên.
Năm sau, bài thứ hai, Trăng Thanh Bình, được phát trên Đài Phát thanh và được người nghe đón nhận khá nhanh. Mình thử hình dung cậu học trò ngày ấy, lần đầu nghe bài hát của mình vang lên từ chiếc máy thu thanh, trong nhà của những người mình không hề quen biết.
Báo Tiền Phong kể rằng, trước khi thành danh, ông từng phải vay tiền bạn bè để tự phát hành bản nhạc của mình. Ngày ấy, một bài hát muốn đến với người nghe thì phải in thành tờ nhạc, bày bán ở các sạp. Người mua về, mở đàn, tập hát theo. Một cậu thiếu niên tự bỏ tiền in nhạc, rồi hồi hộp chờ xem có ai mua không. Cảm giác đó, chắc ai từng làm một việc gì lần đầu cũng hiểu.
Rồi đến Khúc Ca Ngày Mùa. Các nguồn ghi hơi khác nhau về thời điểm: có nơi nói ông viết năm mười tám tuổi, có nơi nói bài hát nổi tiếng từ khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Mình chỉ dám nói là vào khoảng giữa thập niên năm mươi, khi ông chừng mười bảy, mười tám tuổi.
Nghe Khúc Ca Ngày Mùa, mình thấy lại con sông, ngôi chùa và những thửa ruộng ở Rạch Giá. Nhịp nhạc vui, rộn ràng như tiếng người gọi nhau ra đồng. Giai điệu đi lên đi xuống nhẹ nhàng, rất dễ hát, dễ nhớ. Không có gì cầu kỳ. Chỉ có mùa lúa chín, có tiếng cười, có cái no đủ mà người miền Tây nào cũng mong.
Báo Tiền Phong ghi lại rằng bài hát này được nhiều trường học ở Đồng bằng sông Cửu Long chọn để dạy cho học trò, và còn được dùng để tập múa. Một bài hát của cậu thiếu niên xa quê, rốt cuộc lại quay về quê, nằm trong giọng hát của bao thế hệ học trò miền Tây. Mình nghĩ, đó là một vòng tròn rất đẹp.
Một đêm mưa và ngọn đèn khuya
Nhưng cái làm cho tên tuổi Lam Phương thật sự đến với đông đảo người nghe, lại là một bài hát rất buồn. Bài Kiếp Nghèo.
Một chương trình âm nhạc phát thanh năm hai nghìn không trăm lẻ bốn kể rằng ông viết Kiếp Nghèo vào một đêm trời mưa, khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Báo Tri Thức thì xếp bài hát này vào nhóm những bài ông viết từ nỗi lo cho mẹ và các em. Còn báo Tiền Phong thì gọi đó là bài hát đã giúp ông nổi tiếng.
Thử hình dung. Một chàng trai mười bảy tuổi, ở trọ, đêm mưa, nghĩ đến mẹ và năm đứa em ở quê. Không có gì để gửi về ngoài nỗi thương. Thế là ông viết. Bài hát không than trách ai, chỉ kể về cái nghèo như kể về một người quen lâu năm. Chính sự thật thà ấy làm người nghe chạnh lòng.
Có một chi tiết làm mình rất thích. Sau này, khi đã có chút tiếng tăm và ổn định chỗ ở, ông đưa mẹ và các em lên Sài Gòn, sống ở Đa Kao. Rồi gia đình mua được một căn nhà trên đường Nguyễn Tri Phương. Báo Tri Thức còn giữ lại lời người mẹ khi ấy: má chỉ mơ ước có một chỗ trú ngụ đừng quá tồi tàn. Một câu nói rất giản dị. Nhưng nghe xong, mình hiểu vì sao trong nhạc Lam Phương, chữ nghèo bao giờ cũng được viết bằng sự thương, chứ không bằng sự tủi.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, ông viết Đèn Khuya. Cũng theo chương trình phát thanh ấy, đây là bài hát ông viết về mẹ. Một ngọn đèn thức khuya, một người mẹ ngồi chờ, một đứa con ở xa. Những hình ảnh như thế, người Việt nào cũng có trong ký ức của mình.
Những năm tiếp theo, Lam Phương viết rất nhiều. Ông viết cho các đoàn kịch, trong đó có đoàn kịch của nghệ sĩ Kim Cương, và đoàn kịch Sống của nghệ sĩ Túy Hồng, người sau này trở thành vợ ông. Nghệ sĩ Kim Cương, trong ngày tiễn ông về nơi an nghỉ, kể với báo Tuổi Trẻ rằng ông đã chỉ dẫn và giúp đỡ bà từ những vai diễn đầu tiên.
Rồi những bản tình ca nối nhau ra đời. Tình Bơ Vơ. Duyên Kiếp. Chờ Người. Phút Cuối. Trăm Nhớ Ngàn Thương. Nghe nhạc tình Lam Phương, mình thấy ông rất ít khi dùng chữ khó. Câu hát thường ngắn, giai điệu ôm sát lời, như thể ông viết cho người bình thường hát, chứ không viết cho người sành nhạc nghe. Có lẽ vì vậy mà nhạc ông đi được xa, vào được những quán cà phê nhỏ, những đám cưới quê, những buổi văn nghệ học trò.
Thành phố trong sương
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi, Lam Phương lên Đà Lạt nghỉ ngơi. Cuốn sách Lam Phương, Trăm Nhớ Ngàn Thương, do nhà báo Nguyễn Thanh Nhã chấp bút, kể rằng một buổi, từ khách sạn nhìn xuống, ông thấy đồi núi và rừng thông chìm trong sương trắng. Từ khung cảnh ấy, ông viết Thành Phố Buồn.
Điều thú vị là trong cả bài hát không có một chữ Đà Lạt nào. Vậy mà ai nghe cũng biết đó là Đà Lạt. Có con dốc, có sương, có rừng thông, có một mối tình đã lỡ. Cuốn sách nói rằng ông mượn cảnh thiên nhiên để lồng vào một chuyện tình tan vỡ.
Thành Phố Buồn được Đài Phát thanh Đà Lạt phát lần đầu, rồi lan đi rất nhanh. Tờ nhạc được tái bản nhiều lần. Theo báo Tiền Phong, báo chí thời ấy ước tính tiền tờ nhạc ông nhận được từ bài hát này lên tới khoảng mười hai triệu đồng. Nhạc sĩ Tuấn Khanh còn so sánh rằng hồi đó một chiếc xe máy nhập nguyên chiếc chỉ khoảng ba mươi nghìn đồng. Nghĩa là một bài hát, bằng mấy trăm chiếc xe.
Mình kể con số ấy không phải để nói chuyện tiền. Mình kể để thấy một điều: ngày ấy, người ta mua tờ nhạc về để tự hát. Mỗi tờ nhạc bán ra là một người, một gia đình, một nhóm bạn ngồi quanh cây đàn. Mười hai triệu đồng ấy, thật ra là hàng vạn buổi tối có người cất tiếng hát Thành Phố Buồn.
Còn nghe bài hát thì sao? Nhịp chậm, buồn mà không bi lụy. Giai điệu đi theo kiểu kể chuyện, từng câu một, như người đi lại con dốc cũ và nhớ ra từng chi tiết. Người Đà Lạt, dù không ai chính thức đặt tên, vẫn coi đây như một bài ca của thành phố mình. Mỗi lần sương xuống trên đồi thông, lại có người khe khẽ hát.
Những năm sau đó, Lam Phương sống xa quê. Ông ở Mỹ, rồi có một thời gian ở Pháp, rồi lại về Mỹ, sống ở miền Nam bang California. Những năm đầu, ông làm nhiều nghề lao động để lo cho gia đình, trước khi trở lại với âm nhạc. Ông vẫn viết. Báo Việt Nam News có nhắc đến bài Cho Em Quên Tuổi Ngọc, ông viết khoảng thập niên tám mươi ở Pháp, được danh ca Bạch Yến hát.
Trở về bên mẹ
Đầu năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, Lam Phương bị tai biến mạch máu não. Một nửa người ông không còn cử động được như trước. Từ đó, người nhạc sĩ từng viết hàng trăm bài hát phải học lại những việc rất nhỏ: ngồi dậy, cầm một vật, bước một bước.
Những năm ấy, ông không một mình. Em gái ông từ Pháp sang chăm sóc. Có những người hâm mộ ở xa vẫn thường xuyên gọi điện trò chuyện với ông. Có ca sĩ, đồng nghiệp ghé thăm. Ca sĩ Quang Thành, người hay đến thăm ông những năm cuối, kể với báo Tiền Phong rằng ông luôn nhắn lời cảm ơn khán giả, nhất là khán giả trong nước.
Cũng theo lời kể ấy, ông mong được về thắp nén hương cho mẹ ở chùa Phật Lớn, Rạch Giá. Mình đọc tới đây thì dừng lại một lúc. Một người đã đi rất xa, viết rất nhiều, được yêu mến rất nhiều, mà điều cuối cùng muốn làm vẫn chỉ là về thắp hương cho mẹ. Giống hệt cậu bé mười tuổi năm nào, đứng bên bờ sông, nhìn sang ngôi chùa bên kia.
Ngày hai mươi hai tháng mười hai năm hai nghìn không trăm hai mươi, Lam Phương qua đời ở thành phố Fountain Valley, bang California, thọ tám mươi ba tuổi.
Hai năm sau, gia đình đưa tro cốt ông về Việt Nam. Tro cốt được gửi ở chùa Giác Ngộ chừng một tháng, rồi ngày hai mươi tháng mười hai năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, ông được an táng ở Hoa Viên Bình Dương. Báo Tuổi Trẻ kể rằng hôm ấy có nghệ sĩ Kim Cương, Như Quỳnh, Ý Lan, Việt Hương và nhiều đồng nghiệp đến tiễn. Họ thay nhau hát nhạc của ông bên mộ. Tình Bơ Vơ, Thành Phố Buồn, Kiếp Nghèo, Phút Cuối.
Mình thử nghĩ xem, cái gì còn lại từ Lam Phương cho người nghe hôm nay. Có lẽ là sự dễ gần. Nhạc ông không đòi người nghe phải hiểu nhạc lý, không đòi người hát phải có giọng thật hay. Chỉ cần có một nỗi nhớ, một nỗi thương, là hát được nhạc Lam Phương.
Ông viết về cái nghèo mà không tủi. Viết về mất mát mà không oán. Viết về quê nhà bằng những thứ rất thường: tiếng chuông chùa, mùa lúa, ngọn đèn khuya, con dốc trong sương. Những thứ ấy, ai cũng có. Và vì ai cũng có, nên ai nghe cũng thấy mình trong đó.
Lần tới, nếu bạn nghe lại Khúc Ca Ngày Mùa hay Thành Phố Buồn, thử nhớ đến cậu bé mười tuổi bên bờ sông Rạch Giá. Cậu đã đi một vòng rất xa, và cuối cùng đã về.
Tình Ca. Ở đây có bình an.