Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 4

Phạm Đình Chương – Một mái nhà nhiều giọng hát

Quán phở và tiếng đàn tranh

Có một quán phở nhỏ. Người ta ăn xong rồi đi, chẳng ai nhớ tên. Vậy mà cái tên của quán ấy, về sau, lại thành tên một ban hát mà mấy thế hệ người Việt còn nhắc tới.

Quán ấy của gia đình họ Phạm. Và người con trai giữ lại cái tên ấy là Phạm Đình Chương.

Theo báo Thanh Niên, ông sinh ngày mười bốn tháng mười một năm một nghìn chín trăm hai mươi chín, ở Bạch Mai, Hà Nội. Cha ông là ông Phạm Đình Phụng, một người chơi đàn tranh. Trong nhà ấy, tiếng đàn có trước tiếng nói.

Rồi lần lượt, những đứa con lớn lên đều đi theo tiếng đàn. Anh trai cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Viêm, sau này hát với nghệ danh Hoài Trung. Chị gái là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng. Em gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức Thái Thanh.

Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của chị Thái Hằng, nên cũng thành người trong nhà. Báo chí sau này hay gọi đó là một đại gia đình nghệ sĩ. Mình thì nghĩ đơn giản hơn: đó là một mái nhà mà ai cũng hát.

Phạm Đình Chương bắt đầu viết nhạc năm mười tám tuổi. Những bài đầu tiên của ông có tên Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, rồi Hò Leo Núi, Sáng Rừng, Xóm Đêm.

Mới nghe tên thôi đã thấy một chàng trai trẻ thích đi, thích núi, thích rừng, thích tiếng hò của người lao động. Ông không bắt đầu bằng nỗi buồn. Ông bắt đầu bằng ánh sáng buổi sớm.

Khi đi hát, ông lấy tên là Hoài Bắc. Người anh lấy tên Hoài Trung. Hai cái tên đặt cạnh nhau, nghe như hai người con cùng nhớ về một quê nhà.

Và rồi, những giọng hát trong nhà ấy, một ngày, sẽ đứng chung trên một sân khấu.

Ban hợp ca Thăng Long và buổi sáng mùng Một

Ban hợp ca Thăng Long ra đời vào khoảng cuối thập niên bốn mươi, đầu thập niên năm mươi. Có nguồn ghi ban lập ở Hà Nội năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín, có nguồn ghi năm một nghìn chín trăm năm mươi mốt ở Sài Gòn.

Còn cái tên Thăng Long thì chính ông giải thích, theo báo Thanh Niên kể lại. Đó là tên quán phở của gia đình ông từ những năm còn ở miền Bắc.

Ban có Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Hằng, Thái Thanh. Về sau có thêm ca sĩ Khánh Ngọc, người ông cưới làm vợ vào năm một nghìn chín trăm năm mươi ba.

Cái hay của ban Thăng Long là hát nhiều bè. Một người giữ giai điệu, những người khác hát bè trên, bè dưới, quấn lấy nhau. Ông từng nói với báo chí thời đó rằng lối hát nhiều bè của nhóm có vẻ hấp dẫn hơn. Một ký giả thì tả hai giọng nữ Thái Thanh và Thái Hằng quyện vào nhau như một.

Thời ấy, chưa mấy ai hát hợp ca theo lối đó. Ca sĩ Trần Văn Trạch, theo lời nhà thơ Du Tử Lê kể lại, đã ví sự xuất hiện của ban trên sân khấu miền Nam như một cơn lốc lớn.

Rồi năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, ban hát một bài mới của Hoài Bắc. Bài ấy tên là Ly Rượu Mừng.

Đó là một bài chúc Tết. Mà không phải chúc một người. Ông nâng ly chúc cho từng lớp người trong xã hội, từ người làm ruộng tới người làm thợ. Ai cũng có một câu chúc riêng, và cuối cùng là lời mong cho một năm mới bình yên.

Báo Thanh Niên kể, ở miền Nam, nhiều gia đình có thói quen mở bài này vào sáng mùng Một Tết. Lúc đầu là nghe trên đài phát thanh, sau là trên đĩa hát, rồi trên băng cát xét.

Mình hình dung một căn nhà sáng mùng Một. Bàn thờ khói hương. Đứa nhỏ mặc áo mới. Ông bà ngồi uống trà. Và từ cái đài nhỏ ở góc nhà, mấy giọng hát hòa nhau, nâng ly chúc mừng.

Nghe Ly Rượu Mừng, mình để ý nhịp bài đi rất vui, rất chắc, như tiếng bước chân đi chúc Tết. Còn phần hát bè thì như cả nhà cùng cất lời. Không ai hát một mình. Có lẽ vì vậy mà nhà thơ Du Tử Lê gọi nó là xuân khúc kinh điển nhất của tân nhạc Việt Nam.

Một bài chúc mừng cho mọi người. Nhưng Hoài Bắc còn có một giấc mơ lớn hơn: viết về những dòng sông.

Ba dòng sông gặp nhau ở biển

Hội Trùng Dương là một trường ca. Tức là một bài hát dài, gồm nhiều đoạn nối nhau, như một câu chuyện có nhiều chương.

Mở đầu là Lời Biển. Rồi lần lượt ba dòng sông cất tiếng: sông Hồng ở miền Bắc, sông Hương ở miền Trung, sông Cửu Long ở miền Nam. Mỗi dòng sông được ông vẽ thành một cô gái, có giọng nói riêng, có tính tình riêng.

Nhà nghiên cứu Phạm Văn Kỳ Thanh từng viết một bài phân tích rất kỹ về trường ca này. Ông chỉ ra rằng mỗi dòng sông mang một điệu hò của miền mình, nhưng là điệu hò do Phạm Đình Chương tự sáng tạo lại, không phải dân ca nguyên gốc.

Tiếng sông Hồng đi theo điệu hò dô ta, càng về sau càng dồn nhanh, rộn ràng như tiếng người kéo thuyền. Tiếng sông Hương thì chậm lại hẳn, phỏng theo điệu hò mái đẩy của xứ Huế, nghe như một lời than khe khẽ trên mặt nước.

Có một chi tiết mình rất thích. Ở đoạn sông Hương, những chữ mang dấu nặng, dấu hỏi được ông hạ thấp giọng xuống. Nhờ vậy, người hát dù không phải người Huế vẫn nghe ra cái âm sắc Huế. Ông dùng chính thanh điệu của tiếng Việt để vẽ giọng nói một vùng đất.

Còn tiếng Cửu Long thì tươi sáng, khỏe khoắn. Ông chèn vào đó chỉ hai câu theo điệu hò ru con miền Nam. Chỉ hai câu thôi, mà đủ để mình nghe thấy một cánh đồng, một chiếc võng, một người mẹ.

Rồi cuối mỗi đoạn, ông lặp lại cùng một câu kết, như ba dòng nước cùng đổ về một biển. Nhạc thì có kèn trumpet ở phần mở đầu, có hòa âm theo lối phương Tây, nhưng hồn thì vẫn là hồn những điệu hò quê.

Nghe Hội Trùng Dương, mình thấy một người rất yêu tiếng nói của từng vùng quê. Ông không gộp chúng lại thành một. Ông để mỗi miền hát bằng giọng của mình, rồi cho tất cả gặp nhau ở chỗ rộng nhất là biển.

Đó là đỉnh cao của những bài hát hợp ca. Nhưng về sau, nhạc của Hoài Bắc dần đổi giọng. Từ những dòng sông, ông quay về với những bài thơ.

Những bài thơ được sống lần thứ hai

Có những nhạc sĩ tự viết lời. Có những nhạc sĩ phổ thơ. Phạm Đình Chương làm cả hai, nhưng những bài phổ thơ của ông có một vị trí rất riêng.

Ông chọn thơ của những người cùng thời. Đinh Hùng, Quang Dũng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Lưu Trọng Lư, Hoàng Anh Tuấn, Trần Dạ Từ. Mỗi người một giọng, và ông phải tìm cho mỗi giọng thơ một giai điệu vừa vặn.

Mộng Dưới Hoa là một ví dụ. Theo Đài Á Châu Tự Do, bài hát lấy ý từ hai bài thơ của Đinh Hùng, là Tự Tình Dưới Hoa và Xuôi Dòng Mộng Ảo. Câu mở đầu, Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng, nghe như một người đang tự thú.

Nhạc ông ở đây đi theo đúng nhịp của câu thơ bảy chữ. Không cắt vụn, không kéo giãn. Ông để chữ được thở. Mình nghe có cảm giác bài thơ vốn đã có giai điệu sẵn, ông chỉ việc tìm ra nó.

Rồi Đôi Mắt Người Sơn Tây, phổ từ thơ Quang Dũng. Rồi Màu Kỷ Niệm, phổ từ thơ Nguyên Sa. Rồi Mắt Buồn, từ thơ Lưu Trọng Lư, bài ông đề tặng ca sĩ Lệ Thu. Rồi Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, từ thơ Hoàng Anh Tuấn.

Còn Nửa Hồn Thương Đau thì có một câu chuyện riêng. Bài hát phổ từ bài thơ Lệ Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền. Nhưng ông đổi tựa, thêm ý, để lời ca nói đúng tâm trạng của mình lúc ấy. Người hát bài này để đời là em gái ông, Thái Thanh.

Báo chí kể rằng ông viết bài ấy sau một đêm mất ngủ, nhìn ra ngoài trời mưa. Mình không kể thêm. Chỉ biết những năm ấy đời riêng ông có nhiều nỗi buồn, và nỗi buồn ấy đi thẳng vào nhạc.

So với Ly Rượu Mừng, những bài này chậm hơn, trầm hơn, và cô đơn hơn. Không còn bốn năm giọng hát quấn nhau nữa. Thường chỉ là một giọng, một cây đàn, và một bài thơ được hát lên lần thứ hai.

Cuối đời, ông sống xa quê. Ông mất ngày hai mươi hai tháng tám năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, ở California, bên Mỹ, khi mới sáu mươi mốt tuổi.

Mình nghĩ lại cái quán phở nhỏ năm nào. Một cái tên tưởng sẽ bị quên, mà rồi theo những giọng hát đi khắp nơi. Cũng như những bài thơ của bạn bè ông, tưởng chỉ nằm yên trên trang giấy, mà nhờ ông, được cất lên thành tiếng hát.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ là vậy. Một mái nhà mà mọi người cùng hát. Một ly rượu chúc cho tất cả, không bỏ sót ai. Và một tấm lòng biết nâng niu chữ của người khác như chữ của mình.

Sáng mùng Một năm tới, nếu nghe ở đâu đó tiếng hát nâng ly, mình nhớ tới ông nhé.

Tình Ca. Ở đây có bình an.