Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 3

Trịnh Công Sơn – Gác nhỏ, hàng cây và giọng hát chân trần

Hai năm nằm yên

Có một chàng trai mười tám tuổi ở Huế, một buổi tập võ cùng đứa em trai, ngã một cú rất nặng. Rồi chàng nằm đó. Không phải một tuần, không phải một tháng, mà gần hai năm trời.

Mười tám tuổi là cái tuổi người ta muốn chạy, muốn đi, muốn ra khỏi nhà. Còn chàng thì nằm yên, nhìn lên trần, nghe tiếng mưa Huế gõ trên mái. Báo chí sau này kể lại rằng chính trong những ngày nằm yên đó, tình yêu âm nhạc trong chàng thức dậy.

Chàng trai ấy tên là Trịnh Công Sơn.

Ông sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi chín ở Đắk Lắk, nhưng lớn lên ở Huế. Huế thấm vào ông từ thuở nhỏ, với những ngôi chùa, những dòng sông, những cơn mưa dai dẳng. Cũng quãng tuổi mười tám ấy, cha ông mất. Ông là con trai duy nhất trong nhà, và gánh nặng gia đình đặt lên một đôi vai còn rất trẻ.

Có tài liệu ghi rằng những bài đầu tiên ông viết, năm mười bảy tuổi, có tên là Sương Đêm và Sao Chiều. Nhưng bài đầu tiên được nhiều người biết đến là Ướt Mi.

Chuyện Ướt Mi do chính ông kể lại lúc còn sống. Hồi đó ông đi học ở Sài Gòn. Tối nào ông cũng vào phòng trà để nghe một cô ca sĩ mới mười lăm tuổi hát. Cô ấy là Thanh Thúy, sau này thành một giọng ca rất nổi tiếng.

Ông viết Ướt Mi như một lời ngưỡng mộ, rồi đưa tận tay cô bản nhạc chép tay. Cô giới thiệu bài hát ngay trên sân khấu, rồi mời người viết ở lại trò chuyện. Bài hát được in ra vào khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.

Nghe Ướt Mi bây giờ, mình thấy một chàng trai còn rất trẻ. Giai điệu chậm, buồn, có cái ướt át của mưa, của nước mắt. Có người cho rằng bài này mang hơi hướm Giọt Mưa Thu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Điều đó cũng dễ hiểu, vì ai mới tập viết cũng mang theo tiếng nhạc mình đã thương.

Nhưng chỉ một hai năm sau, chàng trai ấy sẽ tìm ra giọng của riêng mình. Và giọng ấy bắt đầu từ một hàng cây ở Huế.

Hàng cây long não

Ở Huế những năm ấy, có một cô gái ngày ngày đi bộ tới trường Đồng Khánh. Cô đi qua cầu Phủ Cam, đi dưới hàng cây long não trước Tòa Tổng Giám mục.

Cô tên là Ngô Vũ Bích Diễm. Cô sinh ở Hà Nội, theo cha vào Huế từ nhỏ. Cha cô là giáo sư Ngô Đốc Khánh, dạy ở trường Quốc Học. Nhà cô ở không xa nhà chàng nhạc sĩ trẻ.

Họ quen nhau một cách rất đời thường. Năm hai nghìn không trăm mười, khi về thăm Huế, bà Bích Diễm kể, theo báo Tuổi Trẻ ghi lại, rằng cô bạn thân của bà quen họa sĩ Đinh Cường. Một mùa hè, bạn ở lại nhà bà để cùng học. Đinh Cường tới thăm, và người đi cùng là Trịnh Công Sơn.

Sau đó ông viết nhạc, tặng bà vài bài. Bà kể thêm, thời gian đầu chưa có Diễm Xưa, phải sau này mới có.

Diễm Xưa được nhiều nguồn ghi là viết vào năm một nghìn chín trăm sáu mươi. Nhà văn Bửu Ý, người bạn của ông thời ấy, cho rằng hình bóng cô gái ấy đã đi vào lòng ông từ thuở ban đầu, và không bao giờ phai.

Nhưng có một điều mình rất quý ở người được nhắc tới trong bài hát. Bà Bích Diễm không nhận hết về mình. Bà nói, anh Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là viết về bà.

Mà nghe kỹ thì thấy bà nói đúng. Bài hát mở ra bằng một câu, Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Chưa thấy người, đã thấy mưa, thấy tháp, thấy cả một thành phố cũ. Người con gái trong bài chỉ hiện ra lờ mờ, như một bóng áo sau màn mưa.

Giai điệu Diễm Xưa đi rất chậm, lặp đi lặp lại như tiếng mưa không dứt. Chữ thì không theo lối kể chuyện. Ông đặt những hình ảnh cạnh nhau, để người nghe tự nối lại. Có lẽ vì vậy mà mỗi người nghe lại thấy một Huế của riêng mình.

Một năm sau, theo nhiều nguồn, ông viết Hạ Trắng. Câu hát Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay thì gần như ai cũng thuộc. Ở đây không còn mưa nữa, mà là nắng, là áo trắng bay trên đường dài. Cùng một thành phố, mà ông nhìn thấy cả hai mùa.

Đó là những năm ông bắt đầu đi xa Huế. Đi học, rồi đi dạy. Và ở những nơi xa ấy, có một người khác bắt đầu viết thư cho ông.

Quy Nhơn, B'lao và gần ba trăm lá thư

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, trường Sư phạm Quy Nhơn mở khóa đầu tiên để đào tạo thầy cô dạy tiểu học. Trịnh Công Sơn là một trong những sinh viên khóa ấy.

Báo Giáo dục và Thời đại kể rằng khóa đầu có mấy người bạn cũng mê nhạc như ông. Thành phố biển ấy đã cho ông bài Biển Nhớ. Ông còn viết một trường ca nhỏ gồm mười ba khúc, tên là Tiếng Hát Dã Tràng, rồi tự tay đứng chỉ huy cho bạn bè hát trong trường.

Mùa hè năm một nghìn chín trăm sáu mươi bốn, ra trường, ông lên dạy ở một trường sơ học tên là Bảo An, ở B'lao, nay là Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Ông dạy những đứa trẻ lớp một, lớp hai, lớp ba.

Mình hay hình dung một thầy giáo trẻ, gầy gò, giữa một thị trấn cao nguyên mờ sương. Buổi sáng dạy trẻ con đánh vần. Buổi tối ngồi một mình với cây đàn và mấy trang giấy.

Những ngày ấy, có một cô gái ở Huế viết thư an ủi ông. Cô là Ngô Vũ Dao Ánh, em gái của bà Bích Diễm. Thư đi rồi thư lại. Từ thư thăm hỏi, dần dần thành thư tình.

Trong một lá thư năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, ông viết rằng rất mong thư Ánh mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi tháng, mỗi năm. Chỉ một câu thôi mà nghe ra cả nỗi cô đơn của một người ở xa.

Năm hai nghìn không trăm mười một, mười năm sau khi ông mất, gia đình ông cùng bà Dao Ánh in những lá thư ấy thành sách, tên là Thư Tình Gửi Một Người. Báo Pháp Luật kể có hai trăm chín mươi chín lá thư viết tay, cùng một lá thư điện tử ông gửi vào năm cuối đời.

Thư nhiều như vậy, mà cuộc tình thì không thành. Theo báo chí, chính ông quyết định khép lại chuyện tình vào năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy. Nhưng ông vẫn tiếp tục viết thư cho bà, suốt nhiều chục năm sau.

Những bài hát gắn với bà Dao Ánh thì nhiều người biết: Mưa Hồng, Tuổi Đá Buồn, Còn Tuổi Nào Cho Em, Lặng Lẽ Nơi Này. Rất lâu về sau, khi gặp lại bà sau khoảng hai mươi năm xa cách, ông viết Xin Trả Nợ Người.

Nghe Mưa Hồng hay Tuổi Đá Buồn, mình thấy nhạc ông đã khác thời Ướt Mi. Không còn khóc to nữa. Nỗi buồn lắng xuống, nhẹ đi, thành một cái nhìn dịu dàng về thời gian. Người con gái trong bài không còn là người để van xin, mà là người để thương, rồi để nhớ.

Có lẽ phải đi xa như vậy, ông mới nhìn rõ được những gì mình thương. Và ở một thị trấn cao nguyên khác, không xa B'lao, ông sắp gặp một giọng hát.

Quán Văn và giọng hát chân trần

Đà Lạt, khoảng giữa thập niên sáu mươi. Ông gặp một cô ca sĩ trẻ đang hát ở đó. Cô tên là Khánh Ly.

Bà Khánh Ly kể trong một cuốn sách chân dung mới in về bà, được báo VnExpress trích đăng, rằng lần đầu gặp nhau là ở Đà Lạt năm một nghìn chín trăm sáu mươi tư. Có nguồn khác ghi là năm sau đó. Ông rủ cô xuống Sài Gòn hát. Cô không chịu, vì không muốn rời thành phố núi.

Ba năm sau, họ tình cờ gặp lại nhau ở Sài Gòn. Lần này cô nhận lời.

Phía sau trường Đại học Văn khoa Sài Gòn có một khoảng đất trống, sinh viên gọi là Quán Văn. Ở đó, ông ôm đàn, cô đứng hát, cho sinh viên nghe, không lấy tiền.

Lần đầu đứng trước đông người, cô run tới mức phải vịn vào vai ông. Bà kể ông bảo cô bỏ tay ra, đứng mà hát cho đàng hoàng. Cô bèn cởi đôi giày cao gót, đứng chân trần mà hát. Người ta gọi cô là nữ hoàng chân đất từ đó.

Mình thích chi tiết này lắm. Nó nói được cái tinh thần của nhạc ông những năm ấy. Không phòng trà sang trọng, không đèn màu. Một cây đàn, một giọng hát, một bãi cỏ, và những người trẻ ngồi nghe.

Giọng hát ấy trầm, hơi khàn, không cố tỏ ra đẹp. Nó hợp với những câu chữ của ông, vốn cần được nói ra hơn là được phô ra. Rồi về sau, nhạc ông còn được rất nhiều giọng hát khác thương, từ Thái Thanh, Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, tới Hồng Nhung, Quang Dũng.

Năm tháng trôi qua, ông vẫn viết. Năm một nghìn chín trăm tám mươi có Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, năm sau có Hoa Vàng Mấy Độ. Rồi Một Cõi Đi Về, bài mà các nguồn ghi thời điểm khác nhau, chỉ biết là vào khoảng giữa thập niên bảy mươi. Câu hát Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, nghe như lời một người tự hỏi mình.

Ở những bài này, chữ của ông nhẹ hơn, chậm hơn, và nhìn đời rộng hơn. Không còn chỉ là một người con gái. Là mây, là núi, là cái đi và cái về của một kiếp người. Giai điệu vẫn đơn giản, vẫn dễ hát, nhưng chữ thì phải sống một đời mới hiểu hết.

Ông sống những năm cuối đời trong căn nhà trên đường Duy Tân, nay là đường Phạm Ngọc Thạch, ở Thành phố Hồ Chí Minh. Năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, ông gặp ca sĩ Hồng Nhung. Cô là người thân thiết với ông trong mười năm cuối đời.

Có người hỏi đâu là bài hát cuối cùng của ông. Báo Pháp Luật kể rằng năm một nghìn chín trăm chín mươi, ông từng nói ông không định viết bài cuối cùng nào cả, vì không ai biết trước giây phút cuối sẽ đến lúc nào. Ca sĩ Quang Dũng thì kể bài Biển Nghìn Thu Ở Lại được ông viết sau một chuyến về Quy Nhơn năm một nghìn chín trăm chín mươi chín.

Ông mất ngày mồng một tháng tư năm hai nghìn không trăm lẻ một, ở tuổi sáu mươi hai. Ông nằm ở nghĩa trang Gò Dưa.

Và từ đó, cứ tới ngày mồng một tháng tư, người ta lại tụ về hát nhạc ông. Ở Huế, ở Đà Lạt, ở Hà Nội, ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có năm hơn một nghìn người ngồi bên mộ ông, hát suốt đêm.

Mình nghĩ lại chàng trai mười tám tuổi nằm yên trên giường bệnh năm nào. Hai năm không đi đâu được. Vậy mà rồi chính chàng đã đi một con đường rất dài, từ Huế, qua Quy Nhơn, qua B'lao, qua Đà Lạt, tới Sài Gòn. Và chở theo trên con đường ấy biết bao nhiêu người.

Điều còn lại cho mình hôm nay, có lẽ là một cách nhìn. Nhìn một cơn mưa mà thấy cả một thành phố. Nhìn nỗi buồn mà không sợ nó. Nhìn cái đi và cái về của đời mình mà thấy nhẹ lòng.

Tình Ca. Ở đây có bình an.