Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 2

Văn Cao – Người viết nhạc như vẽ cõi tiên

Cậu học trò mê võ bên sông Cấm

Hải Phòng, cuối những năm ba mươi. Có một cậu thiếu niên gầy, mắt sáng, chiều chiều lên võ đài đấu võ. Cậu học võ từ năm chín tuổi. Ai nhìn cũng nghĩ cậu sẽ thành một tay võ giỏi. Không ai ngờ cũng chính đôi tay ấy, năm mười sáu tuổi, viết ra một bài hát buồn đến nao lòng về mùa thu.

Cậu tên thật là Nguyễn Văn Cao. Ông sinh ngày mười lăm tháng mười một năm một nghìn chín trăm hai mươi ba, ở Lạch Tray, Hải Phòng. Quê gốc của gia đình ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nhà ông thuộc lớp viên chức, sống trong một khu lao động nghèo bên bờ sông Cấm.

Cậu học tiểu học ở trường Bonnal, rồi học trường dòng Saint Joseph. Ở trường dòng, cậu được nghe những bài thánh ca, được làm quen với nốt nhạc. Đó là những bài học nhạc đầu tiên của cậu. Năm mười lăm tuổi, cậu thôi học. Cậu đi làm điện thoại viên ở sở Bưu điện Hải Phòng. Làm được đúng một tháng thì nghỉ.

Có lẽ cái máy điện thoại không giữ nổi một người có quá nhiều thứ muốn nói. Năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, ông viết bài Buồn tàn thu. Có tài liệu ghi năm bốn mươi, nhưng nhiều nguồn ghi năm ba mươi chín, khi ông vừa mười sáu tuổi. Bài hát đầu tay ấy làm tên tuổi ông được biết đến ngay.

Buồn tàn thu là một bài hát về người con gái đứng nhìn mùa thu đi qua, nhớ một người đã xa. Giai điệu chậm, buồn, nhưng không bi lụy. Mình nghe như nghe một bức tranh màu nâu nhạt, lá vàng rơi từng chiếc. Một cậu bé mười sáu tuổi mà đã biết buồn một cách tinh tế như vậy.

Cũng chính bài Buồn tàn thu đã nối một tình bạn. Theo lời người con trai cả của Văn Cao, khi Phạm Duy theo gánh hát ghé Hải Phòng, ông đã hát bài này trên sân khấu. Từ đó hai người trẻ quen nhau, thành bạn thân. Một người viết, một người hát, đi mang bài hát tới nhiều nơi.

Cõi tiên trên phím đàn

Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi, Văn Cao có một chuyến đi từ Bắc vào Nam. Bài thơ đầu tay của ông gắn với chuyến đi ấy, bài thơ có tên Một đêm đàn lạnh trên sông Huế. Khi đó ông mới mười bảy tuổi.

Sau chuyến đi, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, ông viết bài Thiên Thai. Bài hát lấy từ một tích xưa. Hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc, lạc vào cõi tiên, gặp tiên nữ, rồi khi trở về trần gian thì mọi thứ đã đổi khác. Ông từng nói Thiên Thai là một miền đất lý tưởng mà người ta tìm mãi trong hoài niệm.

Mình nghe Thiên Thai sẽ thấy ngay. Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp người trần. Câu hát mở ra một khung cảnh mà ta chưa từng thấy. Giai điệu của ông dùng nhiều âm hưởng ngũ cung, tức là cái thang âm năm nốt rất gần với dân ca và nhạc cổ Việt Nam. Cho nên dù kể chuyện cõi tiên, bài hát vẫn nghe như của người Việt, rất quen tai.

Bài Thiên Thai có nhịp điệu đổi qua đổi lại, có đoạn lâng lâng như mây bay, có đoạn rộn ràng như tiếng đàn tiếng phách của tiên nữ. Nghe xong, mình có cảm giác vừa đi một chuyến xa, rồi quay về, và thấy tiếc.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, ông chuyển lên Hà Nội. Những năm ở Hà Nội, ông viết Suối mơ, Cung đàn xưa, Thu cô liêu. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, ông viết Trương Chi. Đó là chuyện chàng lái đò nghèo có giọng hát hay, và nàng My Nương con quan ngồi trên lầu cao nghe hát. Một mối tình không thành vì khoảng cách quá xa.

Trương Chi được xem là một bài hát có dáng dấp trường ca, nghĩa là dài, có nhiều đoạn, kể một câu chuyện có đầu có cuối. Nghe bài này, mình như nghe sóng nước, nghe tiếng chèo khua, nghe tiếng hát vang trên mặt sông. Có những đoạn giai điệu vút lên như người hát gửi lòng mình lên tận lầu son. Rồi lặng xuống, như biết rằng sẽ không có lời đáp.

Nhiều người nói, trong những bài hát ấy, có cái bóng của chính Văn Cao. Một người trẻ đầy tài mà nghèo, yêu thầm mà không dám nói.

Bến xuân và một người con gái

Văn Cao từng thú nhận rằng trong tình yêu, ông rất rụt rè. Ông chỉ dám nói lòng mình qua lời hát. Điều ấy được ghi lại trong một bài viết về cuộc đời ông.

Bài Bến xuân ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai. Theo lời họa sĩ Văn Thao, con trai cả của ông, kể với báo chí, bài hát ông viết cho một người con gái ở Hải Phòng mà ông thầm thương. Cô yêu nhạc, hát hay, và rất thích những bài hát của ông.

Chuyện kể rằng hai người bạn thân của Văn Cao cũng thương cô. Họ nhờ chính Văn Cao viết bài hát tặng cô. Ông viết. Nhưng ông không bao giờ nói ra tình cảm của mình. Có lần cô tìm tới, như muốn biết lòng ông. Ông vẫn im lặng. Người con trai của ông cho rằng có lẽ vì tính ông nhút nhát, và vì nhà ông khi ấy còn nghèo.

Vậy là Bến xuân thành một lời tỏ tình không bao giờ được nói thẳng. Bài hát vẽ một bến sông mùa xuân, có con đò, có tiếng chim, có ngôi nhà nhỏ bên dòng nước. Giai điệu nhẹ nhàng, tươi mà vẫn có chút man mác. Nghe kỹ, mình như thấy một người đứng bên kia sông, nhìn sang, không qua được.

Về lời của Bến xuân, có một điều các nguồn kể không giống nhau. Có bản ghi Phạm Duy viết thêm vài câu ở đoạn sau. Gia đình Văn Cao thì kể rằng bài hát được viết trước khi hai người quen nhau. Mình chỉ biết chắc một điều: tình bạn của hai người là có thật, và bài hát này vẫn được hát cho tới hôm nay.

Người bạn đời của Văn Cao về sau là bà Nghiêm Thúy Băng. Gia đình ông sống trong một căn gác nhỏ trên phố Yết Kiêu, Hà Nội.

Người vẽ, người làm thơ, người đánh đàn

Ít ai biết Văn Cao còn là một họa sĩ rất có tài. Từ năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, ông học dự thính ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Khoảng hai mươi tuổi, ông đã có tranh sơn dầu bày ở một cuộc triển lãm lớn ở Hà Nội. Những bức tranh có cái tên rất lạ, như Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa.

Ông hay tự vẽ bìa cho những bản nhạc của mình. Thời đó, một tờ nhạc in ra có bìa do chính tác giả vẽ là chuyện hiếm. Về sau, ông còn vẽ bìa sách, vẽ minh họa, ký họa chân dung bạn bè. Nét vẽ của ông gọn, khối mảng rõ, người trong nghề nói là có hơi hướng lập thể, tức là lối vẽ chia hình thành những mảng góc cạnh.

Thơ của ông thì ít vần điệu. Ông viết theo cảm xúc, có khi triết lý, có khi rất lãng mạn. Ông từng nói rằng ông vẽ và làm thơ vì một thôi thúc, còn âm nhạc mới là lẽ sống của đời ông.

Ông cũng viết những bài hát về làng quê. Bài Làng tôi ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy. Bài Ngày mùa khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám. Làng tôi có tiếng chuông chiều, có lũy tre, có cánh đồng. Ngày mùa thì vui, nhộn nhịp, như cả làng cùng gặt lúa. Nghe hai bài này, mình thấy một Văn Cao khác. Không còn cõi tiên xa xôi, mà là bờ tre, mái rạ, gần gũi lắm.

Rồi có một quãng rất dài ông ít viết nhạc. Ông sống lặng lẽ, vẽ bìa sách, vẽ minh họa, làm thơ. Người ta nhớ tới hình ảnh một ông già gầy, ngồi bên ly rượu nhỏ, trong căn gác nhỏ phố Yết Kiêu.

Mùa xuân cuối cùng của một đời nhạc

Đầu xuân năm một nghìn chín trăm bảy mươi sáu, trong căn gác nhỏ ấy, Văn Cao ngồi vào đàn. Đã rất lâu rồi ông mới viết một bài hát mới. Bài hát ấy là Mùa xuân đầu tiên. Có bài viết ghi rằng ca khúc được nghe lần đầu từ mùa xuân năm trước đó, nhưng phần nhiều các nguồn ghi năm bảy mươi sáu.

Mùa xuân đầu tiên được viết theo nhịp ba, nhịp của điệu valse, tức là điệu nhảy vòng tròn chậm rãi, mỗi nhịp có ba phách. Nghe rất dịu, rất khoan thai. Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về. Chỉ một câu đó, mình đã thấy được cánh én, thấy được nắng xuân, thấy được những người thương nhau tìm về bên nhau.

Bài hát nói về một mùa xuân mà người với người thương nhau. Có bếp lửa, có khói chiều, có mẹ già. Không có gì to tát. Chỉ là cái bình yên giản dị của một nhà. Giai điệu cứ lượn vòng như cánh én, lên rồi xuống, không gấp gáp. Nghe xong, mình thấy lòng nhẹ, như vừa được ai đó vỗ về.

Bài hát thời ấy chỉ được bạn bè thân thiết của ông truyền tay nhau. Mãi đến năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, sau khi ông mất, nó mới được đài phát thanh, đài truyền hình dàn dựng và phát rộng rãi. Rồi mỗi dịp xuân về, người ta lại hát. Có lẽ ông không kịp nghe bài hát của mình vang lên khắp nơi như vậy.

Văn Cao mất ngày mười tháng bảy năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, ở bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội, sau một thời gian bệnh nặng. Ông hưởng thọ bảy mươi hai tuổi.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết rằng trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Cái sang trọng ấy không nằm ở sự cầu kỳ. Nó nằm ở chỗ ông không bao giờ hạ thấp cái đẹp. Dù viết cõi tiên hay làng quê, dù viết mối tình thầm lặng hay mùa xuân của một nhà, ông đều viết bằng một sự trân trọng.

Điều còn lại cho mình hôm nay là gì? Có lẽ là một bài học rất nhỏ. Có những điều trong lòng mình không nói được bằng lời thường. Thì mình hát. Mình vẽ. Mình viết vài câu thơ. Cậu bé rụt rè ở Hải Phòng năm nào đã làm như thế cả một đời, và cái đẹp ông để lại vẫn còn nguyên.

Tình Ca. Ở đây có bình an.