Chân dung nhạc sĩ

Những người viết nên Tình Ca

Chân dung những người đã đặt tiếng Việt vào giai điệu. Mỗi tập một con người: Vương kể chuyện đời và những bài hát của họ, kèm một bài hát Tình Ca viết tặng.

Những người viết nên Tình Ca · Tập 1

Phạm Duy – Người du ca ôm đàn qua mọi nẻo

Cây đàn măng đô lin rơi xuống nền nhà

Có một cậu bé ở Hà Nội, lén lấy cây đàn măng đô lin ra gảy. Măng đô lin là loại đàn nhỏ, thân tròn như nửa quả bầu, tiếng nghe lanh canh. Cậu đang say sưa thì người anh cả bước vào. Cây đàn bị giật khỏi tay, ném xuống nền nhà. Cậu bé bị đánh một trận vì cái tội mê đàn.

Chuyện đó về sau chính ông kể lại, khi đã thành một người viết hơn một nghìn bài hát. Cậu bé tên thật là Phạm Duy Cẩn. Người đời quen gọi ông là Phạm Duy.

Ông sinh ngày năm tháng mười, năm một nghìn chín trăm hai mươi mốt, ở Hà Nội. Cha ông là nhà văn Phạm Duy Tốn, người viết truyện ngắn Sống chết mặc bay mà nhiều thế hệ học trò đã đọc trong sách giáo khoa. Nhưng ông không kịp nhớ mặt cha. Cha mất khi ông mới lên hai, lên ba. Người anh cả là Phạm Duy Khiêm, một nhà giáo, nhà văn, đứng ra nuôi em ăn học.

Có lẽ vì thương em mà nghiêm, người anh muốn em học hành đến nơi đến chốn, đừng theo đàn hát. Cậu Duy Cẩn thì học không giỏi, lại hay nghịch, hay bị phạt. Mãi đến năm học ở trường Thăng Long, cậu mới chịu học cho ra học. Còn nhạc thì cậu không học ở trường nào cả. Cậu học bằng tai, bằng những câu hò câu hát nghe được ngoài phố, ngoài chợ.

Tuổi trẻ của ông là một chuỗi nghề lặt vặt. Ông học vẽ ở Hà Nội. Ông làm phụ việc cho một gánh xiếc. Ông sửa máy thu thanh. Ông đi coi đồn điền ở mấy tỉnh. Nghe thì lông bông, nhưng chính những năm lang bạt đó cho ông một thứ mà trường lớp không dạy được: ông nghe được tiếng nói của người dân khắp nơi.

Năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, ông hai mươi mốt tuổi. Ông đọc bài thơ Cô hái mơ của Nguyễn Bính, nhà thơ của những làng quê, những giàn trầu, những cô gái chân quê. Ông phổ bài thơ ấy thành nhạc. Đó là ca khúc đầu tay của ông. Giai điệu nhẹ, thong thả, như một người khách đi đường dừng chân bên đồi mơ, hỏi chuyện một cô gái.

Bài hát đầu đời đã là một bài thơ quê. Như thể ngay từ đầu, ông đã biết con đường mình sẽ đi. Và con đường ấy, đúng nghĩa đen, là những con đường thật.

Người hát giữa hai màn tuồng

Khoảng năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, bốn mươi tư, chàng trai Phạm Duy theo gánh cải lương Đức Huy và Charlot Miều. Ở gánh hát ấy, ông không đóng tuồng. Ông là người ra hát tân nhạc ở giữa các màn, trong lúc phía sau sân khấu người ta thay cảnh, đổi trang phục.

Mình thử hình dung một rạp hát ở tỉnh lẻ thời đó. Đèn dầu, ghế gỗ, khán giả quạt phành phạch. Màn vừa khép, một anh thanh niên gầy gầy bước ra, ôm cây đàn, hát những bài hát mới. Người ta nghe lạ tai, rồi thích. Ông là một trong những người đầu tiên mang tân nhạc đi khắp nơi theo cách như vậy.

Gánh hát đi từ Bắc vào Nam. Trên đường, ông gặp những người viết nhạc, viết thơ cùng thời như Lưu Trọng Lư, Lê Thương, Văn Đông. Ông cũng trở thành bạn thân của Văn Cao. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn, ông lần đầu tới Huế. Gần bảy mươi năm sau, khi đã ngoài chín mươi, ông về Huế gặp sinh viên. Ông nói với họ, theo lời báo Tuổi Trẻ thuật lại, rằng suốt đời ông là người tình xứ Huế.

Ông từng tự gọi mình là một kẻ du ca chuyên nghiệp. Du ca là hát rong, hát dạo, đi đâu hát đó. Cái chữ ấy theo ông suốt đời. Ông không ngồi trong phòng viết nhạc rồi gửi đi. Ông đi, ông nghe, ông hát, rồi mới viết.

Những năm cuối thập niên bốn mươi, ông nên duyên với ca sĩ Thái Hằng. Bà là người có giọng hát trong, hiền, và là người bạn đời của ông suốt khoảng năm mươi năm. Hai ông bà có tám người con, nhiều người sau này cũng đi hát, như ca sĩ Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo. Trong nhà họ, âm nhạc là chuyện cơm bữa.

Có một điều đáng để ý. Người ta hay nghĩ người viết nhiều thì dễ lặp lại mình. Phạm Duy từng nói với báo Tiền Phong rằng sáng tác xong, ông phải quên ngay, để không bị lặp lại trong các ca khúc sau. Có người hỏi ông về một bài cũ, ông phải lục lại trí nhớ mới ra. Một người viết hơn nghìn bài mà vẫn sợ lặp lại mình, thì đó là một người rất nghiêm với nghề.

Đi khắp ba miền, nghe đủ giọng nói của quê hương, ông bắt đầu nghĩ tới một điều lớn hơn. Làm sao để những câu ru, câu hò, câu lý của người quê sống được trong một bài hát mới?

Tôi yêu tiếng nước tôi

Khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, ông viết bài Tình ca. Có nơi ghi năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, nhưng nhiều tài liệu ghi năm năm mươi hai. Đây là bài mà về sau ông nói là ông tâm đắc nhất.

Câu mở đầu ai nghe cũng thuộc: Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Mình để ý nhé. Ông không bắt đầu bằng núi sông, không bắt đầu bằng lịch sử. Ông bắt đầu bằng tiếng nói. Bằng tiếng mẹ ru con lúc mình còn nằm nôi. Cái tình yêu lớn nhất được kể bằng thứ nhỏ nhất và gần nhất.

Giai điệu bài Tình ca đi lên xuống mềm như giọng người miền Bắc kể chuyện. Rồi bài hát cứ thế đi dần vào trong, qua những hình ảnh của miền Trung, miền Nam. Nghe hết bài, mình như vừa đi một vòng đất nước mà không cần bước ra khỏi nhà.

Cũng trong những năm ấy, ông viết một chùm bài về người quê: Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng quê. Người ta gọi chung là những bài tình tự dân tộc. Bà mẹ thì tảo tần, em bé thì hồn nhiên, vợ chồng thì quấn quýt như đôi chim. Chữ nghĩa giản dị như câu ca dao. Nhịp nhạc có khi nhún nhảy như điệu hò, có khi lắng xuống như lời ru.

Rồi bài Tình hoài hương, là nỗi nhớ quê của người đi xa. Có một cái lạ trong cách ông viết về quê. Ông không than thở. Ông kể. Ông kể con trâu, đồng lúa, mái tranh, bằng một giọng thương mà tỉnh, như người ta lật lại một tấm ảnh cũ.

Nghe kỹ nhạc Phạm Duy thời đó, mình sẽ thấy ông hay để cái dấu của chữ dẫn đường cho nốt nhạc. Tiếng Việt có sáu thanh. Chữ mang dấu sắc thì giai điệu vút lên, chữ mang dấu nặng thì giai điệu chùng xuống. Ông nghe được điều đó như người quê nghe câu hò. Cho nên bài hát của ông hát lên rất thuận miệng, không bị ngọng chữ.

Đưa hồn dân ca vào tân nhạc, nhiều người làm. Nhưng làm sao cho tự nhiên, cho người nghe không thấy cái đường may, thì không dễ. Ông làm được điều ấy, vì ông không lấy dân ca từ sách. Ông lấy từ những năm tháng ngồi nghe người ta hát ngoài đồng.

Rồi đời ông rẽ sang một ngả khác. Từ bài hát của làng quê, ông đi tới bài hát của tuổi học trò và của những mối tình.

Con đường em tan trường về

Những năm sau, ông sống ở phương Nam. Ông dạy nhạc, nghiên cứu nhạc Việt, và viết rất nhiều. Ông có một cái tài ít ai có: phổ thơ. Thơ của người khác vào tay ông thì như được thở lần thứ hai.

Bài thơ của Phạm Thiên Thư là một ví dụ. Nhà thơ kể rằng bài thơ gợi lại kỷ niệm thời đi học với một cô bạn, một thứ tình cảm trong trẻo, chưa thành tình yêu đôi lứa. Phạm Duy phổ thành bài Ngày xưa Hoàng Thị. Đầu những năm bảy mươi, bài hát được học trò khắp nơi hát theo.

Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ. Chỉ một câu ấy thôi mà ai từng là học trò cũng thấy lại mình. Một cậu con trai lẽo đẽo theo sau một cô bé. Mưa thì nhỏ, lòng thì lớn, mà không dám nói. Giai điệu của ông đi chậm, từng bước, như chính bước chân cậu bé theo sau. Không có cao trào ồn ào, chỉ có một nỗi ngại ngùng rất dễ thương.

Hai người còn làm việc với nhau nhiều. Phạm Thiên Thư kể với báo Tiền Phong một chuyện. Phạm Duy nhờ ông viết mười bài thơ. Nhà thơ viết trong ba ngày. Rồi Phạm Duy phổ nhạc trong khoảng một tuần. Một người viết nhanh, một người phổ nhanh, mà bài nào cũng có hồn.

Ông còn viết nhiều tình khúc khác mà người nghe nhiều thế hệ còn nhớ, như Cây đàn bỏ quên, Hẹn hò, Nương chiều, Giọt mưa trên lá. Tình ca của Phạm Duy ít khi ủy mị. Buồn thì có buồn, nhưng là cái buồn đẹp, cái buồn biết mỉm cười. Có lẽ vì ông viết như một người đã đi nhiều, gặp nhiều, nên nhìn chuyện tình bằng một đôi mắt bao dung.

Bên cạnh viết nhạc, ông còn đặt lời Việt cho những khúc nhạc cổ điển phương Tây, như khúc Dạ khúc của Schubert, một nhà soạn nhạc người Áo, hay khúc Mơ mộng của Schumann, một nhà soạn nhạc người Đức. Nhờ vậy mà nhiều người Việt lần đầu được hát những giai điệu ấy bằng tiếng mẹ đẻ.

Ông viết nhiều đến nỗi chính ông cũng khó đếm. Có nguồn nói gần một nghìn bài, có nguồn nói hơn hai nghìn nếu tính cả những bài ông đặt lời. Con số không quan trọng bằng điều này: suốt hơn bảy mươi năm, ông chưa bao giờ thôi viết.

Người du ca về nhà

Rồi cũng có những năm ông sống xa quê, rất xa. Bà Thái Hằng, người bạn đời của ông, mất năm một nghìn chín trăm chín mươi chín. Ông kể với báo Tiền Phong rằng ông tiếc, giá như ông về sớm hơn vài năm thì đã được về cùng bà.

Năm hai nghìn lẻ năm, ông trở về sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông ở trong một căn nhà rộng, đặt nhiều tượng Phật và tượng Quan Âm, để lòng được thanh thản. Có người tới thăm, thấy một ông cụ tóc bạc ngồi bên máy vi tính, vẫn miệt mài làm nhạc. Một nhạc sĩ trẻ kể rằng chính hình ảnh ấy làm anh thích tìm hiểu công nghệ mới.

Ông vẫn đi gặp người nghe. Năm hai nghìn mười hai, hơn chín mươi tuổi, ông ra Huế giao lưu với sinh viên. Ông nói đứng trước các bạn trẻ, ông như được trẻ lại, như sống lại thuở thanh niên. Ông chọn hát lại Tình ca, bài ông thương nhất.

Cuối năm hai nghìn mười hai, người con trai cả của ông, ca sĩ Duy Quang, mất. Hơn một tháng sau, ngày hai mươi bảy tháng giêng năm hai nghìn mười ba, Phạm Duy cũng ra đi ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông chín mươi mốt tuổi, nếu tính theo tuổi ta thì báo chí ghi chín mươi hai, chín mươi ba.

Mình hay nghĩ về cậu bé cầm cây đàn măng đô lin năm nào. Cây đàn bị ném xuống đất. Nhưng cái tiếng đàn trong lòng cậu thì không ai ném đi được. Nó đi theo cậu qua gánh hát, qua những con đường ba miền, qua những mối tình, rồi trở về.

Điều còn lại cho mình hôm nay có lẽ rất giản dị. Ông dạy mình nghe tiếng nói của chính mình. Nghe câu ru của mẹ, câu hò của người chèo đò, giọng con nít gọi nhau ngoài ngõ. Những thứ tưởng nhỏ ấy, khi được lắng nghe, thành ra cả một quê hương.

Lần tới, nếu có dịp nghe lại Tình ca hay Ngày xưa Hoàng Thị, mình thử nhắm mắt lại, đừng nghĩ gì nhiều. Chỉ nghe cái chữ đi cùng cái nốt. Mình sẽ thấy một người du ca vẫn đang ôm đàn, đi chầm chậm qua những con đường quen.

Tình Ca. Ở đây có bình an.