Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
J. K. Rowling - Khi chạm đáy, mình còn một nền móng để dựng lại đời
Năm một nghìn chín trăm chín mươi, trên một chuyến tàu bị trễ về thành phố London, nước Anh, có một cô gái hai mươi lăm tuổi ngồi nhìn ra cửa sổ. Bỗng trong đầu cô hiện lên hình ảnh một cậu bé, không biết mình là phù thủy, sắp được đi học ở một ngôi trường dạy phép thuật. Cô không mang theo cây bút nào. Cô cứ ngồi đó, nghĩ mãi suốt chặng đường.
Bảy năm sau, cậu bé ấy mới bước ra thành sách. Và bảy năm đó là những năm khó khăn nhất đời cô. Chuyện hôm nay mình kể không phải về phép thuật, mà về bảy năm ấy.
Chào bạn,
Cô gái tên là Joanne Rowling, người Anh, sinh năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm. Sau này cả thế giới biết bà qua bút danh ký bằng hai chữ cái đầu. Cha mẹ bà, theo lời bà kể, đều xuất thân nghèo khó, và cả hai đều chưa từng học đại học. Họ mong con gái học một nghề chắc chắn, để khỏi phải khổ như mình.
Joanne thì chỉ mê viết truyện. Bà vào đại học, học ngành văn hóa cổ điển Hy Lạp, La Mã, thứ mà cha mẹ cho là chẳng giúp gì cho chuyện cơm áo. Sau này bà kể vui rằng bà không nhớ mình có dám nói với cha mẹ là mình học ngành ấy không.
Cuối năm một nghìn chín trăm chín mươi, chỉ vài tháng sau chuyến tàu kia, mẹ bà qua đời, khi mới bốn mươi lăm tuổi, sau hơn mười năm mang bệnh. Nỗi mất mát ấy đi vào trang viết của bà, lặng lẽ, suốt nhiều năm.
Rồi Joanne sang nước Bồ Đào Nha dạy tiếng Anh. Buổi sáng bà viết, buổi tối đi dạy. Ở đó bà lấy chồng, và có một bé gái. Nhưng cuộc hôn nhân ngắn ngủi tan vỡ. Cuối năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, bà ôm con gái mấy tháng tuổi về nước, đến thành phố Edinburgh, nước Scotland, nơi có cô em gái.
Bà kể lại, đại ý rằng chỉ bảy năm sau ngày ra trường, bà đã thất bại ở mức không thể to hơn. Hôn nhân đổ vỡ, không việc làm, một mình nuôi con. Bà nghèo đến mức hầu như không thể nghèo hơn ở nước Anh lúc ấy mà vẫn còn có chỗ ở. Những gì cha mẹ từng lo cho bà, và chính bà từng lo cho mình, đều đã xảy ra.
Bà phải xin trợ cấp của nhà nước để thuê một căn hộ nhỏ, sống qua từng tuần. Bà rơi vào trầm cảm, những ngày tối tăm nhất. Bà đã đi gặp người trị liệu, và chính sự giúp đỡ ấy giúp bà đứng dậy được. Mình kể chi tiết này vì nó thật, và vì nó cho thấy tìm người giúp không có gì là xấu hổ.
Giữa những ngày đó, bà vẫn viết. Ban ngày, bà thường mang con theo, ngồi ở một quán cà phê của người em rể, viết từng trang, viết đi viết lại. Bà nói, đại ý: lúc đó tôi chỉ có một cái máy đánh chữ cũ và một ý tưởng lớn.
Và đây là câu mà mình muốn bạn nhớ nhất. Bà nói rằng thất bại đã gạt bỏ đi mọi thứ không cần thiết. Bà thôi giả vờ mình là ai khác, dồn hết sức vào việc duy nhất có ý nghĩa với mình. Nỗi sợ lớn nhất của bà đã thành sự thật, nên bà được tự do. Bà nói: và thế là đáy vực trở thành nền móng vững chắc để tôi dựng lại cuộc đời.
Bản thảo xong, bà gửi đi. Một người đại diện ở London đọc thử ba chương, rồi nhận bà. Ông đem bản thảo đi chào các nhà xuất bản. Một nhà, hai nhà, rồi khoảng mười hai nhà lần lượt từ chối. Mỗi lá thư từ chối là một lần bà phải tự nhủ mình đừng bỏ cuộc. Bà vẫn ngồi viết tiếp những chương sau.
Cuối cùng, một nhà xuất bản nhỏ ở London tên là Bloomsbury chịu nhận. Người ta kể rằng một phần là nhờ một cô bé tám tuổi. Cha cô làm ở nhà xuất bản, mang bản thảo về nhà. Cô bé đọc, và những lời khen hồn nhiên của cô đã góp phần cho quyết định của người lớn. Một độc giả nhỏ tuổi đã thấy điều mà mười mấy người lớn bỏ qua.
Tiền ứng trước chỉ có một nghìn năm trăm bảng Anh. Rồi bà được một hội đồng nghệ thuật của Scotland cấp tám nghìn bảng để viết tiếp. Người ta còn khuyên bà nên dùng tên ký bằng chữ cái đầu, vì sợ các cậu bé không muốn đọc sách của một tác giả nữ.
Ngày hai mươi sáu tháng sáu năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, cuốn truyện đầu tiên, tạm dịch là Cậu bé phù thủy và hòn đá triết gia, ra đời ở nước Anh. Lần in đầu chỉ có vài trăm bản cho nhà sách, vài trăm bản cho thư viện. Không ai ngờ cuốn sách mỏng ấy rồi sẽ đi khắp thế giới.
Mười một năm sau, bà được mời nói chuyện với sinh viên ra trường ở một đại học lớn của nước Mỹ. Bà nói đại ý: không ai sống mà không thất bại một điều gì đó, trừ khi sống dè dặt đến mức chẳng khác gì không sống. Bà còn nói, tài năng và trí thông minh chưa bao giờ giúp ai miễn nhiễm trước những trớ trêu của số phận.
Bà khép bài nói bằng một câu của một triết gia La Mã xưa, đại ý là: đời người cũng như một câu chuyện, điều quan trọng không phải nó dài bao nhiêu, mà nó hay đến đâu.
Bạn ơi, ở tuổi mình, ai mà chẳng từng chạm đáy. Có người làm ăn thua lỗ, mất nhà. Có người hôn nhân đổ vỡ giữa chừng. Có người về hưu, con cái đi xa, tự thấy mình thừa thãi. Những lúc ấy, mình hay nghĩ đời mình xong rồi. Nhưng câu của bà Rowling làm mình nghĩ khác. Đáy vực không phải chỗ kết thúc. Nó có thể là cái nền.
Khi mất hết, mình mới thấy rõ cái gì thật sự cần. Một người thân còn ở bên. Một sức khỏe còn đủ đi bộ mỗi sáng. Một việc mình yêu, dù nhỏ, như trồng chậu kiểng, viết vài trang hồi ký, dạy cháu đánh đàn. Đó là cái máy đánh chữ cũ của mình. Và một ý tưởng, dù muộn, vẫn đủ để dựng lại một khoảng đời.
Còn với những người làm cha mẹ như mình, chuyện bà Rowling cũng nhắc một điều. Cha mẹ bà lo con nghèo, nên muốn con học nghề chắc chắn. Bà không trách họ. Nhưng con đường của con, có khi phải để con tự đi. Mình thương con thì cứ thương, còn giấc mơ của con, mình tin nó một chút cũng được.
Nếu hôm nay bạn đang ở dưới đáy, mình mong bạn nhớ hình ảnh một bà mẹ trẻ trong quán cà phê nhỏ ở Edinburgh, con nhỏ bên cạnh, tay viết từng chữ. Không ai tin bà, trừ chính bà và một cô bé tám tuổi. Vậy là đủ để bắt đầu.
Tình Ca. Ở đây có bình an.